Lý Huệ Tông tên thật là Lý Sảm, vị vua thứ tám của nhà Lý, ở ngôi từ năm 1211 đến 1224. Ông lên ngôi giữa lúc đất nước loạn lạc, phải dựa vào họ Trần ở vùng ven biển để giữ ngai, rồi mắc bệnh, quyền bính dần rơi hết vào tay Trần Tự Khánh và Trần Thủ Độ. Năm 1224 ông nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, đi tu, và mất năm 1226. Cuộc đời ông là câu chuyện về một vị vua không còn quyền gì trong tay khi triều đại đã suy.
Nhà Lý những năm cuối thế kỷ 12
Muốn hiểu Huệ Tông phải nhìn về đời cha ông, Lý Cao Tông (ở ngôi 1175–1210). Cao Tông lên ngôi khi mới ba tuổi, có Tô Hiến Thành phụ chính. Sau khi Tô Hiến Thành mất (1179), vua lớn lên ham chơi, xây cung điện, đi săn bắn liên miên. Sử chép mất mùa, đói kém, trộm cướp nổi khắp nơi.
Năm 1209, vua nghe lời gièm giết đại thần Phạm Bỉnh Di. Bộ tướng của Phạm Bỉnh Di là Quách Bốc đem quân đánh vào kinh thành. Cao Tông chạy lên vùng Quy Hoá ở phía tây bắc. Thái tử Sảm, khi ấy khoảng 15 tuổi, chạy về hương Lưu Gia, vùng Hải Ấp (thuộc Thái Bình cũ), nương nhờ nhà Trần Lý, một gia đình giàu có làm nghề đánh cá, có thế lực ở vùng ven biển.
Lấy con gái họ Trần, dựa vào binh lực họ Trần
Ở Hải Ấp, thái tử lấy con gái Trần Lý là Trần Thị Dung. Họ Trần đem gia binh giúp dẹp loạn. Trần Lý tử trận trong lúc đánh dẹp, con trai là Trần Tự Khánh nắm quân. Năm 1210, Cao Tông được rước về kinh rồi mất. Thái tử Sảm lên ngôi, năm sau đặt niên hiệu Kiến Gia.
Ngay từ đầu, ngai vàng của Huệ Tông đã dựa vào một lực lượng không thuộc hoàng tộc. Đó vừa là chỗ dựa vừa là mối nguy.
Kẹt giữa thái hậu và họ Trần
Thái hậu Đàm thị, mẹ của vua, nghi ngờ họ Trần. Bà nhiều lần ép vua giáng truất Trần Thị Dung, thậm chí sử chép có lúc bà muốn hại bà. Vua thương vợ, nhiều lần bỏ cung đi trốn, có khi tìm đến chính quân của Trần Tự Khánh để nương thân. Triều đình chia rẽ, các thế lực địa phương như Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn nhân lúc ấy cát cứ.
Trần Tự Khánh dần dần dẹp được các thế lực chống đối, thâu tóm binh quyền. Ông mất năm 1223. Người kế tiếp nắm quân là Trần Thủ Độ, em họ của Trần Thị Dung, giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ, tức chỉ huy quân cấm vệ ngay trong cung.
Bệnh tật của nhà vua
Đại Việt sử ký toàn thư chép Huệ Tông mắc bệnh, có lúc phát cuồng, tự xưng là thiên tướng, cầm giáo cầm mộc múa đến mệt; có lúc uống rượu say, ngủ đến chiều mới dậy. Việc nước giao hết cho Trần Tự Khánh rồi Trần Thủ Độ.
Không có cách nào xác định bệnh của ông là gì theo y học ngày nay. Cũng cần nhớ toàn bộ ghi chép về giai đoạn này đến từ sử thời Trần và sử đời sau, những người có lý do để nhấn mạnh rằng nhà Lý đã hết khả năng trị nước. Nhưng ngay cả khi trừ bớt phần tô đậm, bức tranh chung vẫn rõ: một vị vua bị kẹt giữa mẹ và nhà vợ, không có quân riêng, sức khoẻ suy sụp.
Năm 1224: không có con trai, nhường ngôi cho con gái
Huệ Tông có hai con gái với Trần Thị Dung: công chúa Thuận Thiên (lấy Trần Liễu, anh của Trần Cảnh) và công chúa Chiêu Thánh tên Phật Kim. Không có con trai. Tháng 10 năm 1224, ông lập Chiêu Thánh làm thái tử rồi nhường ngôi, Chiêu Thánh lên ngôi khi mới khoảng bảy tuổi, tức Lý Chiêu Hoàng.
Huệ Tông ra ở chùa Chân Giáo trong kinh thành, lấy hiệu là Huệ Quang đại sư. Việc lập một bé gái làm vua là điều chưa từng có, và nhìn lại thì gần như chắc chắn nằm trong toan tính của Trần Thủ Độ: một vị vua nhỏ tuổi, là con gái, rất dễ được gả cho người trong họ Trần, đường chuyển ngôi đã mở sẵn.
Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Nhà Lý chấm dứt.
Cái chết năm 1226
Ngay cả khi đã đi tu, Huệ Tông vẫn là mối lo của họ Trần. Năm 1226, sử chép Trần Thủ Độ ép ông phải tự tử ở chùa Chân Giáo. Trần Thị Dung, khi ấy đã bị giáng làm Thiên Cực công chúa, sau đó được gả cho Trần Thủ Độ.
Cũng trong những năm này, sử chép Thủ Độ tìm cách diệt trừ tôn thất họ Lý. Phạm vi và cách làm cụ thể ở đây có nhiều dị bản, trong đó có những chuyện mang tính truyền thuyết. Điều chắc chắn hơn là nhiều người họ Lý phải đổi sang họ khác, và một số gia phả ở Hàn Quốc ghi nhận tổ tiên là hoàng tử Lý Long Tường rời Đại Việt sang Cao Ly vào thời này, tức dòng họ Lý Hoa Sơn. Câu chuyện Lý Long Tường dựa chủ yếu vào gia phả và tư liệu Hàn Quốc, chính sử Việt không chép.
Dòng thời gian những năm tàn nhà Lý
| Năm | Sự kiện |
|---|---|
| 1175 | Lý Cao Tông lên ngôi khi ba tuổi |
| 1209 | Loạn Quách Bốc; thái tử Sảm chạy về Hải Ấp, lấy Trần Thị Dung |
| 1210 | Cao Tông mất; thái tử Sảm lên ngôi |
| 1211 | Đặt niên hiệu Kiến Gia |
| 1223 | Trần Tự Khánh mất; Trần Thủ Độ nắm quân cấm vệ |
| 1224 | Huệ Tông nhường ngôi cho Chiêu Thánh, ra chùa Chân Giáo |
| 1225 | Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh |
| 1226 | Huệ Tông mất ở chùa Chân Giáo |
Sử gia đánh giá
Sử gia Nho giáo không trách Huệ Tông nhiều bằng trách Lý Cao Tông: gốc rễ suy vong nằm ở đời cha ông với những năm ăn chơi, tin lời gièm, để loạn lạc lan khắp nơi. Với Huệ Tông, lời bình phần lớn là thương hại, xem ông là người nhu nhược, không đủ sức đứng vững trước mẹ và họ ngoại.
Sử thần cũng nặng lời với Trần Thủ Độ về cái chết của Huệ Tông, dù vẫn công nhận Thủ Độ có công dựng nghiệp nhà Trần. Đây là một trong những chỗ cho thấy Toàn thư không hoàn toàn "bênh" triều đại thắng cuộc.
Với người đọc hôm nay, Huệ Tông là ví dụ rõ về một quy luật: khi nhà vua mất quân đội và nguồn thu, ngai vàng chỉ còn là chiếc ghế. Quyết định của ông năm 1224 chưa chắc là quyết định của chính ông.
Góc nhìn hôm nay: tìm dấu vết ở đâu
- Đền Đô, vùng Đình Bảng, Bắc Ninh: thờ tám vị vua Lý, trong đó có Huệ Tông.
- Vùng Lưu Gia, Hải Ấp (Thái Bình cũ): quê hương họ Trần, nơi Huệ Tông từng nương náu. Khu đền Trần ở đây thờ tổ tiên nhà Trần.
- Sách: các kỷ Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông trong Đại Việt sử ký toàn thư nên đọc liền một mạch để thấy diễn biến sụp đổ; đọc thêm Đại Việt sử lược, bộ sử thời Trần chép khá kỹ giai đoạn này.
Câu hỏi thường gặp
Lý Huệ Tông là ai?
Lý Huệ Tông tên là Lý Sảm, vị vua thứ tám nhà Lý, ở ngôi từ năm 1211 đến 1224. Ông lên ngôi trong loạn lạc, dựa vào binh lực họ Trần, rồi nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng.
Vì sao Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái?
Ông không có con trai, lại mắc bệnh, quyền bính đã nằm trong tay họ Trần. Năm 1224 ông lập công chúa Chiêu Thánh làm vua. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc này nằm trong toan tính của Trần Thủ Độ để chuẩn bị chuyển ngôi sang họ Trần.
Lý Huệ Tông bị bệnh gì?
Toàn thư chép ông có lúc phát cuồng, tự xưng thiên tướng, có lúc say rượu ngủ đến chiều. Không thể xác định bệnh theo y học hiện đại. Một phần ghi chép có thể bị sử đời sau tô đậm.
Lý Huệ Tông mất như thế nào?
Sau khi nhường ngôi, ông ra ở chùa Chân Giáo, lấy hiệu Huệ Quang đại sư. Năm 1226, sử chép Trần Thủ Độ ép ông tự tử tại chùa.
Trần Thị Dung là ai?
Bà là con gái Trần Lý, hoàng hậu của Lý Huệ Tông, mẹ của Lý Chiêu Hoàng. Sau khi nhà Lý mất, bà được gả cho Trần Thủ Độ.