Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua Đinh, Tiền Lê, Lý

Lê Đại Hành: từ Thập đạo tướng quân đến ngôi vua 25 năm

Lê Hoàn, Thập đạo tướng quân nhà Đinh, được tôn lên ngôi năm 980 khi quân Tống sắp sang; đánh lui Tống năm 981 rồi giữ hoà hiếu, trị vì 25 năm, lập ra nhà Tiền Lê.

Lê Đại Hành: từ Thập đạo tướng quân đến ngôi vua 25 năm

Lê Đại Hành tên thật là Lê Hoàn, từng làm Thập đạo tướng quân, tức tổng chỉ huy quân đội nhà Đinh, rồi được tướng sĩ và Thái hậu Dương Vân Nga tôn lên ngôi năm 980 khi quân Tống sắp kéo sang. Ông trị vì từ 980 đến khi mất năm 1005, khoảng 25 năm, lập ra nhà Tiền Lê. Thời của ông vừa đánh lui nhà Tống, vừa khéo léo giữ hoà hiếu với phương Bắc, vừa mở rộng ảnh hưởng xuống phía nam.

Một đứa trẻ mồ côi trở thành tướng giỏi

Lê Hoàn sinh năm 941. Đại Việt sử ký toàn thư chép ông người Ái Châu (vùng Thanh Hoá), mồ côi từ nhỏ, được một viên quan họ Lê nhận làm con nuôi. Quê gốc của ông đến nay vẫn còn được bàn: Thanh Hoá có truyền thống nhận là đất phát tích (vùng Xuân Lập, Thọ Xuân cũ), còn vùng Hà Nam cũ cũng có các di tích và truyền thuyết gắn với tuổi thơ ông. Các nhà nghiên cứu chưa thống nhất.

Lớn lên, ông theo Đinh Liễn rồi theo Đinh Bộ Lĩnh, lập công trong những năm dẹp sứ quân. Đầu những năm 970, khi nhà Đinh định phẩm cấp văn võ và tổ chức quân thành 10 đạo, ông được giao chức Thập đạo tướng quân. Trong một triều đình mà quyền lực dựa chủ yếu vào quân đội, đây là vị trí then chốt.

Năm 979–980: từ phụ chính đến ngôi vua

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị ám hại. Đinh Toàn sáu tuổi lên ngôi, Lê Hoàn làm phó vương nhiếp chính. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc nghi ông có ý cướp ngôi, đem quân chống lại; ông đánh dẹp và giết cả hai. Phạm Hạp cũng nổi lên và bị bắt.

Đúng lúc ấy, nhà Tống nhân nước Việt có biến, chuẩn bị đem quân sang. Sử chép tướng Phạm Cự Lạng cùng các tướng sĩ bàn rằng vua còn nhỏ, không biết ai có công mà thưởng, nên tôn Thập đạo tướng quân làm thiên tử rồi mới xuất quân. Thái hậu Dương Vân Nga, mẹ của Đinh Toàn, lấy áo long cổn khoác cho Lê Hoàn. Năm 980, ông lên ngôi, đặt niên hiệu Thiên Phúc. Đinh Toàn bị giáng làm Vệ vương.

Chuyện Dương Vân Nga sau đó trở thành hoàng hậu của Lê Hoàn là chi tiết sử gia Nho giáo đời sau phê phán gay gắt. Ngày nay người ta nhìn nhận khác hơn: quyết định của bà giúp tránh một cuộc nội chiến ngay trước họng giáo của quân Tống.

Đối ngoại: đánh rồi hoà với Tống, mở rộng về phía nam

Năm 981, quân Tống tiến sang theo cả đường thuỷ và đường bộ. Quân Đại Cồ Việt đánh bại cánh quân bộ, tướng Tống là Hầu Nhân Bảo bị giết, quân Tống rút về. Chi tiết trận đánh không phải trọng tâm ở đây; điều đáng nói là những gì Lê Hoàn làm sau chiến thắng.

Ông không đẩy căng thẳng lên. Ngay sau đó ông cho người sang Tống giảng hoà, trả lại tù binh, nhận sắc phong. Nhà Tống lần lượt phong ông Tiết độ sứ (986), Giao Chỉ quận vương (993) rồi Nam Bình vương (997). Với một nước nhỏ vừa thắng nước lớn, chấp nhận danh nghĩa thần phục để đổi lấy hoà bình thực chất là lựa chọn mà các triều Việt về sau lặp lại nhiều lần.

Tiếp sứ Tống cũng là một nghệ thuật. Năm 987, sứ Tống Lý Giác sang; nhà sư Đỗ Pháp Thuận và Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu được nhờ tiếp đón, đối đáp thơ văn. Bài Vương lang quy của Khuông Việt tiễn sứ Tống còn lưu lại trong Thiền uyển tập anh và sử cũ. Đỗ Pháp Thuận cũng để lại bài thơ trả lời vua khi được hỏi về vận nước, thường gọi là Quốc tộ.

Ở phía nam, năm 982 ông thân chinh đánh Champa vì vua Chiêm giữ sứ giả Đại Cồ Việt. Quân Việt phá được kinh thành Champa ở vùng Quảng Nam cũ. Từ đây, quan hệ Việt – Chiêm bước vào thời kỳ dài vừa giao hảo vừa xung đột.

Trong nước: đào kênh, cày ruộng, phong vương cho con

  • Đào kênh: năm 983 cho đào kênh từ núi Đồng Cổ đến sông Bà Hoà ở vùng Thanh Hoá, giúp thuyền bè đi lại không phải ra biển. Dân gian gọi các đoạn kênh cổ ở Thanh Hoá là kênh nhà Lê.
  • Cày ruộng tịch điền: năm 987 vua cày ruộng ở núi Đọi (vùng Hà Nam cũ). Đây là lần đầu tiên sử Việt chép lễ vua xuống ruộng.
  • Chia đặt quan chức, đổi tên các đơn vị hành chính, xây cung điện ở Hoa Lư, nhiều nơi trang trí bằng vàng bạc theo sử chép.
  • Phong vương cho các con, giao mỗi người trấn giữ một vùng. Cách làm này giữ được biên cõi khi vua còn sống, nhưng chia quyền thành nhiều mảnh.

Đánh dẹp các vùng chưa thuần phục cũng chiếm nhiều thời gian của ông, từ châu Hoan, châu Ái đến các vùng miền núi phía bắc.

Vì sao gọi là "Đại Hành"

"Đại Hành" không phải miếu hiệu hay thụy hiệu. Khi một vị vua vừa mất mà chưa được đặt thụy hiệu, triều đình gọi tạm là "Đại hành hoàng đế", nghĩa là vị hoàng đế đã đi xa. Sau khi Lê Hoàn mất, các con tranh ngôi nên không ai lo việc đặt thụy, cái tên gọi tạm ấy dính luôn vào ông trong sử sách.

Cái chết và tám tháng tranh ngôi

Lê Đại Hành mất năm 1005 ở điện Trường Xuân. Ông đã lập con là Long Việt làm thái tử, nhưng các hoàng tử khác đang nắm quân ở các vùng không chịu. Kinh đô bỏ trống ngôi vua khoảng tám tháng. Long Việt lên ngôi được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh giết. Việc phong vương chia quân cho các con, vốn là thế mạnh lúc ông còn sống, lại trở thành mầm loạn sau khi ông mất.

Nhà Tiền Lê chỉ kéo dài thêm bốn năm sau ông, kết thúc năm 1009.

Sử gia đánh giá, và còn gì để xem

Lê Văn Hưu đặt ông ngang với các bậc vua mở nước Trung Hoa như Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông khi bàn về việc dẹp nội loạn và đánh lui giặc ngoài. Ngô Sĩ Liên thì nặng lời về chuyện Dương Vân Nga và về việc không định sẵn ngôi thái tử từ sớm. Sử học hiện nay thường đánh giá cao ông ở hai điểm: giữ được nền độc lập non trẻ trong lúc triều chính rối loạn, và biết kết thúc chiến tranh bằng ngoại giao.

NămSự kiện
941Lê Hoàn ra đời
Đầu thập niên 970Làm Thập đạo tướng quân nhà Đinh
979Đinh Tiên Hoàng bị ám hại, Lê Hoàn nhiếp chính
980Lên ngôi, niên hiệu Thiên Phúc
981Đánh lui quân Tống
982Thân chinh Champa
987Cày tịch điền ở núi Đọi; tiếp sứ Lý Giác
993Tống phong Giao Chỉ quận vương
1005Mất; các con tranh ngôi

Muốn tìm hiểu thêm, có thể đến đền vua Lê Đại Hành ở cố đô Hoa Lư, Ninh Bình, nằm gần đền vua Đinh; trong đền có thờ cả Dương Vân Nga. Ở Thanh Hoá có đền thờ ông tại vùng Xuân Lập. Sách nên đọc: Kỷ nhà Lê (Tiền Lê) trong Đại Việt sử ký toàn thư, và Thiền uyển tập anh để đọc thơ văn của các nhà sư thời ông.

Câu hỏi thường gặp

Lê Đại Hành là ai?

Lê Đại Hành là Lê Hoàn, người lập nhà Tiền Lê. Ông từng là Thập đạo tướng quân nhà Đinh, lên ngôi năm 980 và trị vì đến năm 1005. Ông đánh lui quân Tống năm 981 rồi giữ hoà hiếu với nhà Tống.

Lê Hoàn trị vì bao nhiêu năm?

Ông trị vì từ năm 980 đến năm 1005, khoảng 25 năm. Đây là gần như toàn bộ thời gian tồn tại của nhà Tiền Lê, vì sau ông triều đại chỉ kéo dài thêm bốn năm.

Vì sao Lê Hoàn được gọi là Đại Hành?

"Đại hành hoàng đế" là cách gọi tạm vị vua vừa mất chưa có thụy hiệu. Sau khi ông mất, các con tranh ngôi nên không đặt thụy hiệu, sử sách vì thế giữ luôn tên gọi Lê Đại Hành.

Dương Vân Nga có vai trò gì trong việc Lê Hoàn lên ngôi?

Bà là thái hậu, mẹ của vua nhỏ Đinh Toàn. Theo Toàn thư, khi tướng sĩ muốn tôn Lê Hoàn để chống quân Tống, bà lấy áo long cổn khoác cho ông, chấp nhận chuyển ngôi. Sau đó bà trở thành hoàng hậu của Lê Hoàn.

Quê Lê Hoàn ở đâu?

Sử cũ chép ông người Ái Châu, tức vùng Thanh Hoá. Tuy vậy vùng Hà Nam cũ cũng có nhiều truyền thuyết và di tích nhận là quê ông. Vấn đề này đến nay vẫn còn được bàn.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác