Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua Đinh, Tiền Lê, Lý

Lý Thái Tổ: chú tiểu chùa Cổ Pháp thành vua mở nghiệp nhà Lý

Lý Công Uẩn được nuôi dạy ở chùa Cổ Pháp, làm quan võ thời Tiền Lê, được tôn lên ngôi cuối năm 1009, dời đô về Thăng Long năm 1010 và mở đầu nhà Lý kéo dài 216 năm.

Lý Thái Tổ: chú tiểu chùa Cổ Pháp thành vua mở nghiệp nhà Lý

Lý Thái Tổ tên thật là Lý Công Uẩn, sinh năm 974 ở châu Cổ Pháp (vùng Đình Bảng, Bắc Ninh), từ nhỏ được nuôi dạy trong chùa, sau làm quan võ cho nhà Tiền Lê và được triều thần tôn lên ngôi cuối năm 1009. Ông mở đầu nhà Lý, triều đại kéo dài 216 năm, dời đô về Thăng Long năm 1010 và trị vì đến khi mất năm 1028. Ông là trường hợp hiếm có trong sử Việt: lên ngôi gần như không đổ máu.

Đứa trẻ không rõ cha và ngôi chùa Cổ Pháp

Sử cũ chép mẹ ông họ Phạm, còn cha thì không rõ. Truyền thuyết kể bà đi chơi chùa Tiêu Sơn, gặp thần nhân rồi có mang. Đây là kiểu chuyện thường gắn với người sáng lập triều đại để tạo vẻ thiêng liêng; nên đọc như truyền thuyết.

Điều sử ghi rõ hơn: năm lên ba tuổi, ông được mẹ đem cho nhà sư Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp làm con nuôi, mang họ Lý từ đó. Lớn lên, ông theo học thiền sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ, cùng vùng Cổ Pháp. Vạn Hạnh là nhà sư có uy tín bậc nhất thời Tiền Lê, từng được Lê Đại Hành hỏi ý trong việc quân. Môi trường chùa chiền ấy giải thích vì sao về sau triều Lý gắn bó với Phật giáo đến vậy.

Từ quan võ đến người được tôn lên ngôi

Lý Công Uẩn vào kinh đô Hoa Lư, làm quan dưới triều Tiền Lê, lên đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, tức chỉ huy quân cấm vệ. Ông lấy con gái của Lê Đại Hành là Lê Thị Phất Ngân; người con trai của họ, Lý Phật Mã, sau này là Lý Thái Tông.

Những năm cuối của Lê Long Đĩnh, sử chép nhiều lời sấm lan truyền ở vùng Cổ Pháp, như chuyện cây gạo bị sét đánh hiện ra những câu tiên tri về họ Lý. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là dư luận được chuẩn bị có chủ ý, có thể từ giới nhà chùa quanh Vạn Hạnh, để việc đổi triều được lòng người.

Tháng 10 năm Kỷ Dậu 1009, Lê Long Đĩnh mất, con còn nhỏ. Chi hậu Đào Cam Mộc thuyết phục triều thần, rồi cùng mọi người tôn Lý Công Uẩn lên ngôi, khi ông khoảng ngoài 35 tuổi. Năm sau đặt niên hiệu Thuận Thiên, nghĩa là "thuận theo trời".

Những việc lớn trong 19 năm trị vì

Dời đô về Thăng Long

Việc nổi tiếng nhất là năm 1010 rời Hoa Lư, dời đô về thành Đại La, đổi tên là Thăng Long. Chiếu dời đô giải thích lý do bằng thế đất và tầm nhìn lâu dài; câu chuyện ấy đáng một bài riêng nên ở đây chỉ nhắc lại như mốc lớn nhất của đời ông.

Sắp đặt lại đất nước

  • Đổi mười đạo cũ thành 24 lộ, đặt các châu, phủ ở vùng xa.
  • Định các lệ thuế đối với ruộng đất, ao hồ, bãi dâu, sản vật miền núi, muối, đồ quý như ngà voi, sừng tê. Lần đầu tiên nguồn thu của nhà nước được quy định thành loại rõ ràng.
  • Phong các con làm vương, giao cầm quân đi dẹp những vùng chưa yên. Thái tử Phật Mã nhiều lần cầm quân, tích luỹ kinh nghiệm trước khi lên ngôi.

Đối ngoại

Ông sai sứ sang nhà Tống ngay sau khi lên ngôi và được phong Giao Chỉ quận vương, về sau được phong Nam Bình vương. Năm 1018 ông sai Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Tống xin kinh Tam Tạng; về sau kinh được chép lại, cất ở kho Đại Hưng. Với Champa và các vùng biên giới phía bắc, triều Lý vừa đánh vừa chiêu dụ.

Dựng chùa, độ tăng

Ngay năm đầu, ông cho dựng tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức (quê ông), sửa chùa quán ở các lộ, độ cho hơn nghìn người ở kinh đô làm sư. Ông cũng dựng các cung điện, chùa trong thành Thăng Long. Đây là phần bị sử gia Nho giáo đời sau phê phán nhiều nhất.

Tính cách qua sử chép

Sử cũ vẽ ông là người khoan hoà, ít dùng hình phạt, biết lựa thời. Cách ông lên ngôi là bằng chứng rõ nhất: không giết dòng họ Lê, không có cuộc thanh trừng nào được ghi lại. Việc lấy con gái Lê Đại Hành và để cháu ngoại nhà Lê nối ngôi càng làm cho sự chuyển giao giữa hai dòng họ mềm đi.

Ông cũng là người biết dùng người có học. Trong triều Lý buổi đầu, nhà sư vừa là thầy tư tưởng vừa là cố vấn chính sự; Vạn Hạnh được tôn làm Quốc sư. Đồng thời, ông không bỏ quân sự: các con trai được giao binh quyền từ sớm, giúp nhà Lý vượt qua cơn khủng hoảng kế vị năm 1028.

Cái chết và nơi thờ

Lý Thái Tổ mất năm 1028 ở điện Long An, thọ 55 tuổi, táng ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức. Ngay sau khi ông mất, ba người con là Vũ Đức vương, Dực Thánh vương và Đông Chinh vương đem quân tranh ngôi với thái tử Phật Mã, gọi là loạn tam vương. Thái tử dẹp được và lên ngôi, tức Lý Thái Tông.

Ông được thờ chính ở Đền Đô (Lý Bát Đế) tại vùng Đình Bảng, Bắc Ninh, cùng bảy vị vua kế tiếp của nhà Lý. Ở Hà Nội có tượng đài Lý Thái Tổ bên hồ Hoàn Kiếm, dựng năm 2004.

Sử gia đánh giá: khen dời đô, chê sùng Phật

Sử giaKhenChê
Lê Văn Hưu (thời Trần)—Lên ngôi chưa được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà đã dựng tám chùa, độ hơn nghìn người làm sư; cho là tốn của, sai thứ tự việc nước
Ngô Sĩ Liên (thời Lê sơ)Thuận lòng trời và lòng người mà lên ngôi; khoan nhân; dời đô định nước để lại cơ nghiệp lâu dài—
Sử học hiện đạiChuyển giao quyền lực hoà bình; dời đô mở ra trung tâm chính trị bền vững gần một nghìn nămNguồn gốc lên ngôi gắn với tuyên truyền sấm ký, khó đánh giá khách quan

Lời chê của sử gia Nho giáo cần đặt vào bối cảnh: họ đứng trên lập trường đề cao Nho học. Đối với thế kỷ 11, Phật giáo là nền tảng văn hoá và giáo dục chính, nhà chùa là nơi giữ chữ nghĩa. Một vị vua lớn lên trong chùa và dựa vào nhà chùa là chuyện hợp lẽ thời ấy.

Góc nhìn hôm nay: đi đâu, đọc gì

  • Chùa Cổ Pháp (chùa Dận) và Đền Đô ở vùng Đình Bảng, Bắc Ninh: một buổi có thể đi cả hai, nơi ông lớn lên và nơi ông được thờ. Lễ hội Đền Đô diễn ra vào giữa tháng Ba âm lịch.
  • Hoàng thành Thăng Long ở Hà Nội: di sản thế giới, có tầng văn hoá thời Lý trong khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu.
  • Sách: Đại Việt sử ký toàn thư phần Kỷ nhà Lý; Thiền uyển tập anh có tiểu sử thiền sư Vạn Hạnh. Đọc thêm Chiếu dời đô trong sách giáo khoa hoặc các tuyển tập văn học Lý – Trần.

Bài học từ ông không nằm ở chiến công. Ông cho thấy một cuộc đổi triều có thể diễn ra mà không cần thanh trừng, khi người lên ngôi biết dựa vào uy tín, liên minh và lòng tin hơn là gươm giáo.

Câu hỏi thường gặp

Lý Thái Tổ tên thật là gì?

Lý Thái Tổ tên thật là Lý Công Uẩn. Ông mang họ Lý từ khi được nhà sư Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp nhận làm con nuôi lúc ba tuổi. "Thái Tổ" là miếu hiệu, dùng cho vị vua mở đầu triều đại.

Lý Công Uẩn lên ngôi năm nào?

Ông được triều thần tôn lên ngôi vào tháng 10 năm Kỷ Dậu 1009, sau khi Lê Long Đĩnh mất. Năm 1010 ông đặt niên hiệu Thuận Thiên và dời đô về Thăng Long.

Lý Thái Tổ quê ở đâu?

Ông người châu Cổ Pháp, nay thuộc vùng Đình Bảng, Bắc Ninh. Nơi đây có chùa Cổ Pháp nơi ông lớn lên và Đền Đô thờ tám vị vua nhà Lý.

Thiền sư Vạn Hạnh có vai trò gì với Lý Công Uẩn?

Vạn Hạnh là thầy dạy của Lý Công Uẩn ở chùa Lục Tổ. Ông được cho là đã góp phần tạo dư luận ủng hộ họ Lý qua các lời sấm, và sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi được tôn làm Quốc sư.

Lý Thái Tổ trị vì bao lâu?

Ông trị vì từ cuối năm 1009 đến năm 1028, khoảng 19 năm. Ông mất ở điện Long An, thọ 55 tuổi, táng ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác