Trần Dụ Tông tên thật là Trần Hạo, sinh năm 1336, lên ngôi năm 1341 khi mới sáu tuổi và ở ngôi đến khi mất năm 1369. Mười sáu năm đầu triều chính do thượng hoàng Minh Tông nắm; sau năm 1357, khi Minh Tông mất, Dụ Tông tự trị nước và sử chép ông ham chơi, rượu chè, xây vườn, bỏ bê việc nước. Đói kém, khởi nghĩa nông dân, Champa tấn công, và một cuộc khủng hoảng kế vị sau khi ông mất: sử gia coi triều Dụ Tông là lúc cơ nghiệp nhà Trần bắt đầu suy.
Vị vua sáu tuổi dưới bóng thượng hoàng
Trần Hạo là con thứ mười của Trần Minh Tông, mẹ là hoàng hậu Hiến Từ. Năm 1341, anh ông là Trần Hiến Tông mất khi còn trẻ, không có con. Thượng hoàng Minh Tông lập Trần Hạo lên ngôi, đặt niên hiệu Thiệu Phong.
Những năm Thiệu Phong (1341–1357), mọi việc lớn do Minh Tông quyết. Triều đình khi ấy còn nhiều danh thần: Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn được giao soạn Hoàng triều đại điển và khảo soạn Hình thư ngay năm 1341. Chu Văn An dạy ở Quốc Tử Giám. Nhìn bề ngoài, triều Trần vẫn vững.
Những vết nứt ngay từ thời Thiệu Phong
Dù có thượng hoàng giữ, dấu hiệu suy đã xuất hiện:
- Thiên tai và đói kém: Toàn thư chép nhiều năm hạn hán, lụt lội, mất mùa, dân phải bán ruộng đất, bán con làm nô tỳ cho nhà giàu.
- Khởi nghĩa Ngô Bệ: năm 1344, Ngô Bệ tụ tập dân nghèo ở núi Yên Phụ (vùng Hải Dương cũ) nổi lên, đến năm 1360 mới bị dẹp hẳn. Đây là cuộc khởi nghĩa nông dân lớn đầu tiên của thời Trần, dấu hiệu cho thấy mâu thuẫn từ chế độ điền trang và nô tỳ đã chín muồi.
- Champa trở lại: sau năm 1360, vua Champa Chế Bồng Nga bắt đầu tấn công biên giới phía nam, đòi lại các châu đã mất.
Sau năm 1357: khi không còn ai kèm
Năm 1357, thượng hoàng Minh Tông mất. Năm sau Dụ Tông đổi niên hiệu là Đại Trị. Toàn thư dành nhiều trang cho những năm Đại Trị, và bức tranh không mấy sáng sủa:
- Xây vườn, đào hồ: vua cho đào hồ trong vườn ngự, chất đá làm núi, trồng cây lạ, nuôi chim thú. Việc chở đá, đào đất bắt dân phu làm.
- Rượu chè: sử chép vua cho các nhà giàu thi uống rượu trong cung, ai uống được nhiều thì được thưởng thăng chức. Bản thân vua cũng uống nhiều.
- Đánh bạc và hát tuồng: vua cho các vương hầu, quý tộc vào cung đánh bạc; con em quý tộc học diễn các tích tuồng do Lý Nguyên Cát, một người Nguyên bị bắt giữ, truyền dạy.
- Bỏ bê triều chính: quan lại tham nhũng, nịnh thần được dùng, lời can gián không được nghe.
Nên đọc những ghi chép này cùng với bối cảnh: sử thần Nho giáo có xu hướng dồn trách nhiệm suy vong cho cá nhân vua. Nhưng các sự kiện cụ thể (đói kém, khởi nghĩa, thua trận) thì có thật và nhất quán với nhau.
Chu Văn An và tờ Thất trảm sớ
Thầy giáo Chu Văn An, người từng dạy thái tử dưới thời Minh Tông, thấy triều chính đổ nát, dâng sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần, sử gọi là Thất trảm sớ. Vua không nghe. Ông treo mũ từ quan, về ở ẩn ở núi Phượng Hoàng, vùng Chí Linh, dạy học và làm thơ.
Văn bản sớ không còn, tên bảy người cũng không được sử ghi rõ. Nhưng hình ảnh ông thầy treo mũ ra đi trở thành biểu tượng của người trí thức không thoả hiệp. Khi Chu Văn An mất (1370), ông được thờ ở Văn Miếu, một vinh dự hiếm có với một người không phải bậc thánh hiền Trung Hoa.
Champa và thất bại năm 1368
Chế Bồng Nga là vị vua mạnh nhất trong sử Champa. Năm 1361, quân Champa đánh cướp cửa biển Di Lý (vùng Quảng Bình cũ). Năm 1368, Champa sai sứ sang đòi lại đất Hoá Châu. Dụ Tông sai Trần Thế Hưng đem quân đi đánh; quân Trần thua, Trần Thế Hưng bị bắt.
Từ đây, thế chủ động ở phía nam chuyển sang Champa. Những đời vua sau, kinh thành Thăng Long sẽ nhiều lần bị quân Champa tiến vào. Câu chuyện ấy thuộc về Nghệ Tông và Duệ Tông.
Năm 1369: không con, và Dương Nhật Lễ
Dụ Tông mất năm 1369, thọ 34 tuổi, không có con nối dõi. Thái hậu Hiến Từ lập Dương Nhật Lễ, con nuôi của Cung Túc vương Trần Dục (anh của Dụ Tông).
Chỉ hơn một năm sau, Nhật Lễ bị tôn thất họ Trần phế bỏ, Trần Phủ (Nghệ Tông) lên ngôi. Khủng hoảng kế vị này cho thấy dòng chính của nhà Trần đã mỏng, và quyền lực bắt đầu chảy về những người như Lê Quý Ly, họ ngoại của các vua mới.
Sử gia đánh giá
Toàn thư nhận định, đại ý, từ khi thượng hoàng Minh Tông mất, chính sự bê trễ, cơ nghiệp nhà Trần suy từ đây. Lời phê không chỉ nhằm vào Dụ Tông mà còn nhằm vào cả cách nhà Trần chuẩn bị người kế vị: một ông vua được ngồi ngai 16 năm mà chưa bao giờ thực sự cầm quyền.
| Năm | Sự kiện |
|---|---|
| 1336 | Trần Hạo ra đời |
| 1341 | Lên ngôi lúc sáu tuổi; soạn Hoàng triều đại điển, Hình thư |
| 1344 | Khởi nghĩa Ngô Bệ bùng lên |
| 1357 | Thượng hoàng Minh Tông mất |
| 1358 | Đổi niên hiệu Đại Trị |
| 1360 | Dẹp xong Ngô Bệ |
| 1361 | Champa đánh cướp cửa Di Lý |
| 1368 | Quân Trần thua Champa, Trần Thế Hưng bị bắt |
| 1369 | Dụ Tông mất; Dương Nhật Lễ được lập |
Sử học hiện đại thêm một góc nhìn rộng hơn: thế kỷ 14 là thời khủng hoảng ở nhiều nơi trong khu vực. Nhà Nguyên ở Trung Hoa cũng trải qua thiên tai, đói kém, khởi nghĩa nông dân liên miên rồi sụp đổ năm 1368, nhà Minh lên thay. Đặt Dụ Tông vào bối cảnh ấy, sự suy yếu của Đại Việt không chỉ do một ông vua ham chơi, mà còn do những sức ép chung về thời tiết, mùa màng và cơ cấu đất đai mà triều đình không đủ sức xử lý.
Góc nhìn hôm nay
Bài học từ Dụ Tông không nằm ở chuyện một ông vua ham chơi. Nó nằm ở chỗ một hệ thống được thiết kế để "kèm cặp" vua trẻ, khi người kèm quá giỏi và ở quá lâu, lại tạo ra một người kế vị không biết tự đứng. Cùng lúc, những vấn đề xã hội tích tụ hàng chục năm (đất đai, nô tỳ) gặp thiên tai là bùng ra.
- Đền thờ Chu Văn An ở núi Phượng Hoàng, Chí Linh (Hải Dương cũ, nay thuộc Hải Phòng): nơi ông về ở ẩn sau khi dâng Thất trảm sớ.
- Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội): có nơi thờ Chu Văn An.
- Đọc: kỷ Trần Dụ Tông trong Toàn thư, đọc liền các năm Đại Trị để thấy nhịp suy; Việt sử thông giám cương mục thời Nguyễn có lời bình đáng tham khảo.
Câu hỏi thường gặp
Trần Dụ Tông là ai?
Trần Dụ Tông là Trần Hạo, con Trần Minh Tông, vua thứ bảy nhà Trần, ở ngôi từ năm 1341 đến 1369. Ông lên ngôi lúc sáu tuổi, sau năm 1357 tự trị nước và bị sử chép là ham chơi, bỏ bê triều chính.
Vì sao nói nhà Trần suy từ thời Dụ Tông?
Sau khi thượng hoàng Minh Tông mất năm 1357, triều chính đổ nát, đói kém, khởi nghĩa nông dân nổ ra, Champa tấn công. Dụ Tông mất không con, dẫn tới khủng hoảng kế vị. Toàn thư coi đây là lúc cơ nghiệp nhà Trần bắt đầu suy.
Thất trảm sớ là gì?
Thất trảm sớ là tờ sớ Chu Văn An dâng lên Trần Dụ Tông xin chém bảy kẻ nịnh thần. Vua không nghe, ông từ quan về Chí Linh ở ẩn. Văn bản sớ không còn.
Trần Dụ Tông có con không?
Ông không có con nối dõi. Sau khi ông mất năm 1369, thái hậu Hiến Từ lập Dương Nhật Lễ, con nuôi của Cung Túc vương Trần Dục, lên ngôi.
Khởi nghĩa Ngô Bệ là gì?
Đó là cuộc khởi nghĩa nông dân do Ngô Bệ lãnh đạo, bắt đầu năm 1344 ở núi Yên Phụ (vùng Hải Dương cũ) và bị dẹp năm 1360. Đây là cuộc khởi nghĩa nông dân lớn đầu tiên dưới thời Trần.