Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua Đinh, Tiền Lê, Lý

Lý Nhân Tông: vị vua trị vì lâu nhất lịch sử Việt Nam (56 năm)

Lý Nhân Tông lên ngôi năm 1072 lúc bảy tuổi, ở ngôi 56 năm đến 1127, lâu nhất sử Việt; thời ông có khoa thi đầu tiên 1075, Quốc Tử Giám 1076 và mấy chục năm thịnh trị.

Lý Nhân Tông: vị vua trị vì lâu nhất lịch sử Việt Nam (56 năm)

Lý Nhân Tông tên thật là Lý Càn Đức, lên ngôi năm 1072 khi mới bảy tuổi và ở ngôi đến khi mất năm 1127, tròn 56 năm, lâu nhất trong số các vua Việt Nam. Thời của ông có khoa thi Nho học đầu tiên (1075), Quốc Tử Giám (1076), cuộc kháng chiến chống Tống và sau đó là mấy chục năm thái bình, nhà Lý đạt độ thịnh nhất. Ông không có con trai, nên trước khi mất phải chọn cháu nối ngôi.

Vị vua bảy tuổi và những người đứng sau ngai vàng

Lý Càn Đức sinh năm 1066, là con của Lý Thánh Tông và nguyên phi Ỷ Lan. Năm 1072 vua cha mất, ông lên ngôi. Triều chính trong những năm đầu nằm trong tay Thái sư Lý Đạo Thành, vị đại thần thuộc tôn thất, và hai bà thái hậu: Thượng Dương thái hậu (hoàng hậu chính của Thánh Tông) và Ỷ Lan (mẹ đẻ của vua).

Sử chép Ỷ Lan oán việc mình không được làm thái hậu chính, nói với vua; Thượng Dương thái hậu bị giam rồi chết cùng nhiều cung nữ. Đây là vết đen lớn nhất gắn với Ỷ Lan trong chính sử, sử gia đời sau phê phán nặng. Câu chuyện Ỷ Lan là đề tài riêng; ở đây chỉ cần biết cậu bé bảy tuổi trên ngai vàng sống giữa những cuộc tranh chấp mà mình chưa hiểu hết.

1075–1077: chống Tống và hoà ước

Đầu triều Nhân Tông, nhà Tống chuẩn bị đánh Đại Việt. Triều đình chủ động đem quân đánh trước vào các châu Ung, Khâm, Liêm (1075–1076), rồi chặn quân Tống ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (1077) dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt. Diễn biến các trận ấy thuộc về đề tài danh tướng. Về phía nhà vua, điều đáng ghi là triều đình chọn kết thúc bằng đàm phán: sau khi quân Tống rút, Đại Việt cử sứ thần sang thương lượng.

Năm 1084, Lê Văn Thịnh được cử đến biên giới bàn việc phân định, đòi lại được các vùng đất thuộc mấy huyện, động mà nhà Tống chiếm giữ. Ngoại giao tiếp nối quân sự, đó là kiểu kết thúc chiến tranh mà các triều Việt về sau dùng lại nhiều lần.

Năm 1075: khoa thi đầu tiên và nền Nho học

Năm 1075, triều đình mở khoa thi chọn người "Minh kinh bác học" và thi Nho học ba trường. Lê Văn Thịnh đỗ đầu, được vào hầu vua học. Năm 1076, lập Quốc Tử Giám, chọn quan viên văn chức có học vào học. Năm 1086 thi chọn người có văn học sung vào Hàn lâm viện; Mạc Hiển Tích trúng tuyển, được bổ Hàn lâm học sĩ.

Những mốc này thường được tóm lại thành "nhà Lý mở khoa cử". Thực ra khoa thi thời Lý còn thưa, không định kỳ; phải đến thời Trần và nhất là thời Lê sơ, khoa cử mới thành hệ thống. Nhưng chính đời Nhân Tông là lúc lần đầu tiên người có học vấn Nho giáo được tuyển chọn qua thi cử để vào bộ máy nhà nước.

Vụ án Lê Văn Thịnh năm 1096

Lê Văn Thịnh, người đỗ đầu khoa thi năm 1075, về sau làm đến Thái sư. Năm 1096, khi vua đi chơi hồ Dâm Đàm (Hồ Tây), sử chép có sương mù, một con hổ hiện ra trên thuyền, người đánh cá Mục Thận quăng lưới trùm được, hoá ra là Lê Văn Thịnh. Ông bị kết tội mưu giết vua, vua nghĩ có công nên không giết, đày lên Thao Giang.

Chi tiết "hoá hổ" rõ ràng mang màu sắc huyền thoại. Các nhà nghiên cứu hiện nay coi đây là một nghi án lớn của thời Lý: hoặc là âm mưu có thật được kể lại bằng ngôn ngữ thần bí, hoặc là một cuộc thanh trừng chính trị nhằm vào người đứng đầu phe Nho học. Chưa có kết luận. Ở quê ông, vùng Gia Bình (Bắc Ninh), ông được thờ như một bậc khai khoa.

Thời thái bình: đê điều, chùa tháp và múa rối nước

Từ khoảng năm 1080 trở đi, Đại Việt có mấy chục năm ít chiến tranh lớn. Sử chép triều đình đắp đê Cơ Xá ở kinh thành năm 1108, ban lệnh bảo vệ trâu bò vì là sức kéo của nhà nông, lập nhiều chùa tháp lớn.

Một hiện vật quý cho thấy đời sống thời ấy là bia Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Long Đọi Sơn (vùng Duy Tiên, Hà Nam cũ, nay thuộc Ninh Bình), khắc năm 1121. Bia mô tả lễ mừng thọ vua, trong đó có cảnh rùa vàng nổi trên mặt nước, đội ba toà núi, các tiên nữ múa hát, được nhiều nhà nghiên cứu coi là một trong những ghi chép sớm nhất về nghệ thuật múa rối nước. Chùa Long Đọi Sơn cũng có tháp Sùng Thiện Diên Linh do vua cho dựng.

Vua cũng là người trọng thiền học. Thiền uyển tập anh còn giữ bài kệ ông truy tán thiền sư Vạn Hạnh, người thầy của Lý Thái Tổ, mở đầu bằng câu "Vạn Hạnh dung tam tế", nghĩa là Vạn Hạnh thấu suốt cả ba thời quá khứ, hiện tại, tương lai.

Không có con trai và di chiếu năm 1127

Suốt 56 năm trị vì, Lý Nhân Tông không có con trai. Ông chọn Lý Dương Hoán, con của em trai là Sùng Hiền hầu, nuôi trong cung rồi lập làm thái tử. Năm 1127, vua mất khi đã ngoài 60 tuổi. Dương Hoán lên ngôi, tức Lý Thần Tông.

Toàn thư chép lại di chiếu của ông, một văn bản hiếm hoi của thời Lý còn giữ được. Đại ý vua nói: các loài sinh ra không loài nào không chết, chết là lẽ thường của trời đất; trẫm không muốn vì mình mà bắt dân để tang lâu, làm hao tổn sức người; tang lễ nên làm giản dị, các quan để tang trong thời gian ngắn rồi bỏ, không cấm dân cưới xin, tế lễ. Đây là đoạn văn được các nhà nghiên cứu văn học trích như một áng văn chính luận thời Lý.

Kỷ lục 56 năm trong bối cảnh

VuaThời gian ở ngôiSố năm (tròn)
Lý Nhân Tông1072–112756
Lê Hiển Tông1740–178647
Lý Anh Tông1138–117537
Tự Đức1847–188336

Ngồi ngai lâu không đồng nghĩa nắm quyền lâu: những năm đầu, quyền bính ở tay thái sư và thái hậu. Nhưng khác Lê Hiển Tông (quyền ở phủ chúa Trịnh), Lý Nhân Tông khi trưởng thành thực sự điều hành triều chính.

Đánh giá và còn gì để xem

Sử thần đời sau khen Nhân Tông là vua anh minh, nhân hiếu, dân được giàu đủ, đời ông là thời thịnh trị của nhà Lý; nhưng cũng chê việc sùng Phật tốn kém và vụ Thượng Dương thái hậu đầu triều. Sử học hiện đại ghi nhận thời ông là đỉnh cao của nhà Lý về văn hoá, ngoại giao và nền Nho học sơ khai.

  • Chùa Long Đọi Sơn: xem bia Sùng Thiện Diên Linh, một trong những tấm bia thời Lý còn nguyên vẹn hiếm hoi.
  • Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội): gắn với mốc Quốc Tử Giám năm 1076.
  • Đền thờ Lê Văn Thịnh ở vùng Gia Bình, Bắc Ninh: nơi tìm hiểu về nghi án năm 1096.
  • Sách: Kỷ Lý Nhân Tông trong Toàn thư, đọc kỹ đoạn di chiếu năm 1127.

Câu hỏi thường gặp

Vị vua nào trị vì lâu nhất lịch sử Việt Nam?

Lý Nhân Tông trị vì lâu nhất, 56 năm, từ năm 1072 đến năm 1127. Ông lên ngôi lúc bảy tuổi và ở ngôi đến khi mất.

Lý Nhân Tông là con ai?

Ông là con của Lý Thánh Tông và nguyên phi Ỷ Lan, sinh năm 1066. Ông là vị vua thứ tư của nhà Lý.

Khoa thi đầu tiên ở Việt Nam là năm nào?

Khoa thi Nho học đầu tiên được mở năm 1075 dưới đời Lý Nhân Tông, Lê Văn Thịnh đỗ đầu. Năm sau, 1076, triều đình lập Quốc Tử Giám.

Vụ Lê Văn Thịnh hoá hổ có thật không?

Sử chép năm 1096 Lê Văn Thịnh hoá hổ định hại vua ở hồ Dâm Đàm. Chi tiết hoá hổ là huyền thoại; các nhà nghiên cứu coi đây là một nghi án chính trị chưa có kết luận. Ông bị đày chứ không bị giết.

Lý Nhân Tông có con không, ai nối ngôi?

Ông không có con trai. Ông chọn cháu là Lý Dương Hoán, con của em trai Sùng Hiền hầu, lập làm thái tử. Dương Hoán lên ngôi năm 1128, tức Lý Thần Tông.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác