Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua nhà Nguyễn

Gia Long: cuộc đời Nguyễn Phúc Ánh từ năm 1777 đến khi lên ngôi

Nguyễn Phúc Ánh thoát chết năm 1777 khi 15 tuổi, trải 25 năm lưu vong, cầu viện Xiêm và Pháp, giữ Gia Định từ 1788, đặt niên hiệu Gia Long năm 1802, lên ngôi năm 1806.

Gia Long: cuộc đời Nguyễn Phúc Ánh từ năm 1777 đến khi lên ngôi

Nguyễn Phúc Ánh, tức vua Gia Long (1762–1820), mất gần hết gia đình năm 1777 khi mới 15 tuổi, rồi mất thêm 25 năm chạy trốn, lưu vong, giành lại từng vùng đất trước khi đặt niên hiệu Gia Long năm 1802 và làm lễ lên ngôi hoàng đế năm 1806. Ông là người lập nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của Việt Nam. Đời ông là một chuỗi quyết định gây tranh cãi đến nay, nhất là việc nhờ quân Xiêm và người Pháp; nhưng cũng là câu chuyện bền bỉ hiếm có của một người tưởng đã mất tất cả.

Cháu chúa Nguyễn, không phải người kế vị

Nguyễn Phúc Ánh sinh năm 1762 ở Phú Xuân, là cháu nội chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Cha ông là Nguyễn Phúc Luân, người lẽ ra được nối ngôi chúa, nhưng quyền thần Trương Phúc Loan lập một người con khác của Võ vương là Nguyễn Phúc Thuần (Định vương). Luân mất sớm năm 1765, khi Ánh mới ba tuổi.

Những năm 1770, Đàng Trong rối loạn: Tây Sơn nổi dậy ở Quy Nhơn từ 1771, quân Trịnh từ Bắc đánh vào Phú Xuân năm 1774. Định vương cùng con cháu, trong đó có Ánh, chạy vào Gia Định.

Năm 1777: thoát chết một mình

Năm 1777, quân Tây Sơn đánh vào Gia Định. Định vương và Tân Chính vương (cháu của Định vương, người được lập làm chúa trước đó) đều bị bắt và bị giết. Dòng chúa Nguyễn gần như bị xoá sổ. Nguyễn Phúc Ánh, 15 tuổi, trốn thoát xuống vùng đất phương nam.

Năm 1778, khi Tây Sơn rút quân, các tướng cũ của chúa Nguyễn tập hợp lại và tôn Ánh làm Đại nguyên soái. Năm 1780, ở tuổi 18, ông xưng vương ở Gia Định. Từ đây gần hai mươi năm, Gia Định là căn cứ của ông.

Những năm lưu vong

Phú Quốc, Côn Lôn

Năm 1782 và 1783, Tây Sơn lại đánh vào Gia Định. Ánh thua, chạy ra các đảo ngoài khơi như Phú Quốc, Côn Lôn (Côn Đảo), có lúc thiếu cả lương ăn. Dân gian Nam Bộ còn lưu nhiều truyền thuyết về những ngày này, như chuyện cá voi đỡ thuyền chúa qua cơn bão. Đó là truyền thuyết, phản ánh cảm tình của một bộ phận dân Nam Bộ với ông, không phải sử liệu.

Sang Xiêm

Năm 1784, Ánh sang Xiêm (Thái Lan) cầu viện. Vua Xiêm Rama I cho quân sang. Đầu năm 1785, quân Xiêm thua lớn trước Nguyễn Huệ ở miền Tây. Ánh lại sang Xiêm, sống nhờ ở Bangkok khoảng hai năm, có lúc cùng quân của mình giúp Xiêm đánh dẹp.

Bá Đa Lộc và hoàng tử Cảnh

Cũng thời gian đó, Ánh nhờ giám mục người Pháp Pierre Pigneau de Behaine (người Việt gọi là Bá Đa Lộc, hay Cha Cả) sang Pháp cầu viện, gửi theo con trai trưởng là hoàng tử Cảnh, khi ấy mới khoảng năm tuổi, làm tin. Năm 1787, ở Versailles, một hiệp ước được ký giữa đại diện hai bên: Pháp hứa giúp quân, đổi lại được nhượng đảo Côn Lôn và cửa biển Hội An (Đà Nẵng). Hiệp ước không bao giờ được thực hiện: chính quyền Pháp lúc ấy không gửi quân.

Bá Đa Lộc về sau tự quyên tiền, mua vũ khí, đưa một nhóm người Pháp tình nguyện sang giúp Ánh. Con số người Pháp thực sự tham gia không nhiều, nhưng họ góp phần vào việc xây thành, đóng tàu, huấn luyện pháo binh.

Giành lại Gia Định và mười bốn năm cầm cự

Năm 1787 Ánh rời Xiêm về nước; năm 1788 ông chiếm lại Gia Định. Lần này ông giữ được. Ông làm những việc của người dựng nước chứ không chỉ của người cầm quân:

  • Khuyến khích khẩn hoang, lập đồn điền, thu thuế lúa để nuôi quân.
  • Đóng tàu chiến, mua súng của thương nhân phương Tây.
  • Xây thành Gia Định (1790) theo kiểu thành phương Tây, hình bát giác.
  • Thu dụng người tài ở Nam Bộ, như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, và các võ tướng như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Võ Tánh.

Năm 1792, vua Quang Trung mất. Tây Sơn suy yếu dần vì chia rẽ nội bộ. Nguyễn Phúc Ánh mỗi năm theo gió mùa đem quân ra đánh miền Trung rồi về, dân gian gọi là "giặc mùa". Năm 1799 Bá Đa Lộc mất. Năm 1801, hoàng tử Cảnh mất vì bệnh đậu mùa ở tuổi 21. Cùng năm, quân Nguyễn chiếm được Phú Xuân.

Năm 1802 và năm 1806

Tháng 5 âm lịch năm 1802, ở Phú Xuân, Nguyễn Phúc Ánh làm lễ cáo trời đất, đặt niên hiệu Gia Long. Tên niên hiệu thường được giải thích là ghép từ Gia Định và Thăng Long, ý nói làm chủ từ Nam ra Bắc. Hai tháng sau ông vào Thăng Long. Nhà Tây Sơn chấm dứt; những người đứng đầu Tây Sơn bị xử tội nặng, một việc mà sử gia đời sau phê phán là sự trả thù khắc nghiệt.

Năm 1804, Gia Long nhận sắc phong của nhà Thanh, đặt quốc hiệu Việt Nam. Năm 1806 ông chính thức làm lễ lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân.

NămViệc
1762Sinh ở Phú Xuân
1777Tây Sơn chiếm Gia Định, các chúa Nguyễn bị giết; ông thoát
1780Xưng vương ở Gia Định
1782–1783Thua, chạy ra Phú Quốc, Côn Lôn
1784–1787Cầu viện Xiêm; sống lưu vong ở Bangkok; hoàng tử Cảnh sang Pháp
1788Chiếm lại Gia Định
1801Hoàng tử Cảnh mất; chiếm Phú Xuân
1802Đặt niên hiệu Gia Long; vào Thăng Long
1806Làm lễ lên ngôi hoàng đế
1820Mất ở Huế

Làm vua 18 năm và người nối ngôi

Trên ngai, Gia Long lo dựng bộ máy: xây kinh thành Huế, làm bộ luật Hoàng Việt luật lệ (thường gọi luật Gia Long, ban hành 1815), giao cho các tổng trấn quản Bắc thành và Gia Định thành. Ông thận trọng, ít cải cách, dựa nhiều vào mô hình nhà Thanh.

Câu hỏi khó nhất cuối đời ông là người nối ngôi. Theo lệ, con của hoàng tử Cảnh đã mất là người có quyền. Gia Long chọn con thứ tư, hoàng tử Đảm, người ông cho là cứng rắn và giỏi việc nước. Ông mất đầu năm 1820, an táng ở lăng Thiên Thọ, ngoại ô Huế. Hoàng tử Đảm lên ngôi, tức vua Minh Mạng.

Sử gia đánh giá: ba cách nhìn

Sử nhà Nguyễn (Đại Nam thực lục) ca ngợi Gia Long là bậc trung hưng, vượt gian khổ dựng lại cơ nghiệp tổ tiên.

Nhiều sử gia thế kỷ 20 chê ông nặng nề vì đã cầu viện Xiêm và Pháp, cho rằng ông mở đường cho sự can thiệp của nước ngoài. Câu "cõng rắn cắn gà nhà" từng được dùng cho ông.

Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu nhìn cân bằng hơn: công lao thống nhất một lãnh thổ rộng từ Bắc vào Nam là có thật; viện trợ Pháp thực tế rất nhỏ và hiệp ước Versailles không được thi hành, nên không thể quy việc Pháp xâm lược sau này hoàn toàn cho ông; nhưng cách ông đối xử với Tây Sơn và lựa chọn mô hình nhà nước bảo thủ cũng là những điểm đáng phê phán.

Góc nhìn hôm nay

  • Lăng Gia Long (Thiên Thọ lăng), ngoại ô Huế: nằm giữa đồi núi, ít khách hơn các lăng khác, rất yên tĩnh.
  • Côn Đảo, Phú Quốc: nhiều địa danh còn gắn với truyền thuyết thời chạy giặc.
  • Đọc: phần Thế tổ trong Đại Nam thực lục (bản dịch); đọc kèm các nghiên cứu về Tây Sơn để có góc nhìn từ hai phía.

Câu hỏi thường gặp

Gia Long lên ngôi năm nào?

Nguyễn Phúc Ánh đặt niên hiệu Gia Long tháng 5 âm lịch năm 1802 ở Phú Xuân, và chính thức làm lễ lên ngôi hoàng đế năm 1806. Ông trị vì đến khi mất đầu năm 1820.

Vì sao Nguyễn Ánh phải chạy trốn nhiều năm?

Năm 1777 quân Tây Sơn chiếm Gia Định và giết các chúa Nguyễn; Ánh 15 tuổi thoát được. Từ đó đến 1788 ông nhiều lần thua, phải chạy ra Phú Quốc, Côn Lôn và sang Xiêm.

Hiệp ước Versailles 1787 có được thực hiện không?

Không. Hiệp ước ký năm 1787 hứa Pháp gửi quân giúp Nguyễn Ánh, nhưng chính quyền Pháp không thi hành. Bá Đa Lộc sau đó tự tổ chức một nhóm nhỏ người Pháp tình nguyện sang giúp.

Niên hiệu Gia Long có nghĩa là gì?

Thường được giải thích là ghép chữ đầu của Gia Định và chữ cuối của Thăng Long, ý chỉ làm chủ đất nước từ Nam ra Bắc. Đây là cách giải thích phổ biến được nhiều sách chép.

Ai nối ngôi Gia Long?

Hoàng tử thứ tư Nguyễn Phúc Đảm, tức vua Minh Mạng, lên ngôi năm 1820. Gia Long không chọn con của hoàng tử Cảnh dù theo lệ dòng trưởng có quyền ưu tiên.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác