Minh Mạng (còn đọc Minh Mệnh), tên huý Nguyễn Phúc Đảm (1791–1841), là vị vua thứ hai nhà Nguyễn, trị vì 21 năm (1820–1841). Ông được coi là ông vua chăm chỉ và nghiêm khắc nhất của triều Nguyễn: tự tay phê hàng vạn văn bản, xây dựng lại gần như toàn bộ bộ máy hành chính, và giữ triều đình trong một kỷ luật rất chặt. Cũng chính sự cứng rắn ấy khiến ông bị phê phán, nhất là về chính sách cấm đạo Thiên Chúa và đóng cửa với phương Tây.
Người con được cha chọn
Nguyễn Phúc Đảm sinh năm 1791 ở Gia Định, khi cha là Nguyễn Phúc Ánh còn đang giao tranh với Tây Sơn. Ông là con thứ tư. Mẹ ông là bà Trần Thị Đang, sau được tôn là Thuận Thiên Cao hoàng hậu.
Theo lệ, người nối ngôi phải là dòng trưởng: hoàng tử Cảnh đã mất năm 1801, nên con của Cảnh là người có quyền. Nhưng Gia Long chọn Đảm. Sử nhà Nguyễn chép vua cha thấy ông chăm học, cứng rắn, hiểu việc nước. Một số đại thần như Nguyễn Văn Thành từng ủng hộ dòng trưởng, và chuyện này để lại căng thẳng trong triều những năm đầu.
Đầu năm 1820 Gia Long mất. Hoàng tử Đảm, 29 tuổi, lên ngôi, đặt niên hiệu Minh Mạng.
Một ông vua làm việc như người thư ký
Điều nổi bật nhất ở Minh Mạng là khối lượng công việc. Ông dậy sớm, đọc tấu sớ đến khuya, và phê bằng mực son lên văn bản, gọi là châu phê. Những văn bản có lời phê của vua (châu bản) thời Minh Mạng còn lại rất nhiều trong kho lưu trữ, và cả bộ châu bản triều Nguyễn đã được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương (2014).
Đọc các lời phê ấy, người ta thấy một ông vua để ý cả những chi tiết rất nhỏ: một con số thuế không khớp, một quan địa phương báo cáo sơ sài, một chữ viết sai trong tờ trình. Ông thường khen chê thẳng thắn bằng lời lẽ ngắn gọn.
Dựng lại bộ máy
Gia Long để lại một nhà nước còn mang dấu vết thời chiến: Bắc thành và Gia Định thành do các tổng trấn quyền lực lớn cai quản gần như tự trị. Minh Mạng quyết định tập trung mọi quyền về triều đình. Những việc chính:
- Bỏ chế độ tổng trấn, chia cả nước thành các tỉnh (1831–1832), mỗi tỉnh có tổng đốc, tuần phủ do triều đình bổ nhiệm. (Chi tiết việc lập tỉnh là đề tài riêng.)
- Lập Nội các (1829) làm văn phòng của vua và Cơ mật viện (1834) bàn việc lớn.
- Chuẩn hoá giấy tờ: quy định mẫu văn bản, thời hạn báo cáo, cách lưu trữ.
- Đổi quốc hiệu thành Đại Nam năm 1838.
Cùng với đó là cả một hệ thống lễ nghi, đo lường, trang phục được chuẩn hoá. Cửu đỉnh đặt trước Thế Miếu (đúc 1835–1837) cũng là sản phẩm của triều ông.
Nghiêm khắc với quan lại, với hoàng tộc
Minh Mạng nổi tiếng không nương tay với quan lại sai phạm, kể cả người thân cận. Ông đặt ra nhiều lệ nhằm giữ quyền vua khỏi bị chia sẻ. Đời sau hay nhắc đến cái gọi là lệ "tứ bất" của nhà Nguyễn: không lập hoàng hậu, không lập tể tướng, không lấy trạng nguyên, không phong vương cho người ngoài hoàng tộc. Thật ra đây là những nếp hình thành dần qua nhiều đời vua, không phải một đạo luật duy nhất do Minh Mạng ban ra, và mỗi điều đều có ngoại lệ; nhưng tinh thần của nó khớp với cách nghĩ của ông.
Với hoàng tộc, ông đặt ra bài Đế hệ thi gồm 20 chữ để đặt tên cho các đời con cháu của mình: Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo, Quý, Định, Long, Trường, Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật, Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương. Nhờ đó, ai biết chữ lót trong tên một người họ Nguyễn Phúc là biết người đó thuộc đời thứ mấy sau Minh Mạng. Ví dụ vua Thiệu Trị tên Miên Tông, vua Tự Đức tên Hồng Nhậm, vua Duy Tân tên Vĩnh San.
Ông cũng có rất nhiều con: sử chép 142 người con (78 hoàng tử, 64 công chúa). Trong số đó có những nhà thơ lớn như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương.
Cấm đạo và đóng cửa với phương Tây
Đây là phần gây tranh cãi nhất. Minh Mạng coi đạo Thiên Chúa là mối đe doạ đến trật tự Nho giáo và đến chủ quyền. Từ năm 1833 ông ra lệnh cấm đạo; nhiều giáo sĩ và giáo dân bị bắt, bị xử tội. Cùng năm, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833–1835) có một số giáo sĩ dính vào, càng làm vua cứng rắn hơn.
Với phương Tây, ông từ chối các đề nghị lập quan hệ buôn bán của Anh, Pháp. Đánh giá việc này rất khác nhau: có người cho đây là phản ứng hiểu được trước sự bành trướng của phương Tây ở châu Á; có người cho rằng việc cấm đạo và đóng cửa đã tạo cớ cho Pháp can thiệp mấy chục năm sau, và làm Việt Nam bỏ lỡ cơ hội học hỏi kỹ thuật mới.
Bảng tóm tắt cuộc đời
| Năm | Việc |
|---|---|
| 1791 | Sinh ở Gia Định |
| 1820 | Lên ngôi, niên hiệu Minh Mạng |
| 1829 | Lập Nội các |
| 1831–1832 | Bỏ tổng trấn, chia cả nước thành các tỉnh |
| 1833 | Ra lệnh cấm đạo; nổi dậy Lê Văn Khôi |
| 1834 | Lập Cơ mật viện |
| 1835–1837 | Đúc Cửu đỉnh |
| 1838 | Đổi quốc hiệu Đại Nam |
| 1841 | Mất ở Huế, thọ 50 tuổi |
Mất, lăng và đánh giá
Đầu năm 1841, Minh Mạng mất vì bệnh, thọ 50 tuổi (tuổi ta). Lăng của ông là Hiếu Lăng, nằm ở ngã ba Bằng Lãng nơi hai nguồn sông Hương gặp nhau; lăng được người con là Thiệu Trị xây xong theo thiết kế của cha.
Sử nhà Nguyễn coi Minh Mạng là vị vua anh minh, người hoàn thiện nhà nước. Các sử gia hiện nay thường đồng ý ông là người có năng lực tổ chức bậc nhất trong các vua Nguyễn, và bộ máy hành chính ông dựng lên vận hành suốt nhiều chục năm sau. Điểm bị phê phán là sự cứng nhắc: tập trung quyền quá mức vào một người, chính sách cấm đạo khắc nghiệt, đóng cửa với thế giới đúng lúc thế giới đang thay đổi nhanh nhất.
Dân gian còn có nhiều giai thoại về sức khoẻ, về đời sống hậu cung của ông; phần lớn là chuyện truyền miệng, không có trong sử liệu chính thức.
Góc nhìn hôm nay
- Lăng Minh Mạng (Huế): được nhiều người coi là lăng cân đối, hài hoà nhất trong các lăng vua Nguyễn.
- Cửu đỉnh trước Thế Miếu trong Đại Nội Huế.
- Châu bản triều Nguyễn: có thể xem các bản số hoá và sách tuyển dịch châu bản thời Minh Mạng để thấy giọng phê của vua.
- Đọc: Minh Mệnh chính yếu (tập hợp chính sự, lời dụ của vua, được biên soạn dưới triều sau) và phần Thánh tổ trong Đại Nam thực lục.
Câu hỏi thường gặp
Vua Minh Mạng trị vì bao lâu?
Minh Mạng trị vì 21 năm, từ đầu năm 1820 đến khi mất đầu năm 1841. Ông là vị vua thứ hai của nhà Nguyễn, con thứ tư của vua Gia Long.
Minh Mạng hay Minh Mệnh mới đúng?
Cả hai đều được dùng. Chữ Hán của niên hiệu đọc là Minh Mệnh; người Huế và nhiều sách quen đọc là Minh Mạng, nên cả hai cách đều được chấp nhận.
Minh Mạng có bao nhiêu người con?
Sử chép vua Minh Mạng có 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. Ông cũng đặt bài Đế hệ thi 20 chữ để đặt tên các đời con cháu.
Đế hệ thi là gì?
Đế hệ thi là bài thơ 20 chữ do Minh Mạng đặt, mỗi chữ dùng làm chữ lót cho một đời con cháu của ông: Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo… Nhờ đó nhìn tên là biết người ấy thuộc đời nào.
Vì sao Minh Mạng cấm đạo Thiên Chúa?
Ông coi đạo Thiên Chúa là mối đe doạ với trật tự Nho giáo và với an ninh quốc gia, nhất là khi có giáo sĩ dính vào cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi. Lệnh cấm từ 1833 đến nay vẫn bị phê phán là khắc nghiệt.