Tự Đức, tên huý Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (1829–1883), là vị vua thứ tư và trị vì lâu nhất nhà Nguyễn, 36 năm (1847–1883). Ông là một học giả thật sự: làm thơ, soạn sách dạy chữ, chỉ đạo bộ sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Nhưng ông cũng ốm yếu từ nhỏ, không có con ruột, và ngồi ngai đúng vào thời Pháp đánh chiếm Nam Kỳ rồi Bắc Kỳ. Ông tự viết văn bia cho lăng mình, nhận rằng mình có nhiều lỗi, một việc hiếm thấy ở một ông vua.
Người con thứ được chọn
Hồng Nhậm sinh năm 1829, con thứ hai của vua Thiệu Trị, mẹ là bà Phạm Thị Hằng, người sau này là Từ Dụ thái hậu, nổi tiếng về đức hạnh và có ảnh hưởng lớn với con. Ông học giỏi từ nhỏ, được thầy và cha khen.
Cuối năm 1847 Thiệu Trị mất, di chiếu chọn Hồng Nhậm thay người anh cả Hồng Bảo. Ông lên ngôi khi 18 tuổi, đặt niên hiệu Tự Đức (dùng từ năm 1848). Hồng Bảo không phục; vài năm sau bị phát giác có mưu tính chống lại vua, bị giam và chết trong ngục năm 1854. Vụ án này ám ảnh Tự Đức, và ông bị đời sau phê phán vì đã không giữ được tình anh em.
Một cơ thể yếu
Thuở nhỏ Tự Đức bị bệnh đậu mùa nặng. Theo nhiều nghiên cứu, di chứng của bệnh khiến ông yếu sức suốt đời và có thể là nguyên nhân ông không có con, dù có nhiều phi tần. Sử nhà Nguyễn chép vua thường xuyên đau ốm, nhiều lần phải nghỉ triều.
Không có con ruột, ông nhận ba người cháu làm con nuôi: Ưng Chân, Ưng Kỷ và Ưng Đăng. Cả ba về sau đều làm vua, lần lượt là Dục Đức, Đồng Khánh và Kiến Phúc. Việc không có người nối dõi rõ ràng là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng ngôi vua năm 1883–1884 ngay sau khi ông mất.
Vị vua học giả
Sách dạy chữ bằng thơ Nôm
Tự Đức soạn Tự học giải nghĩa ca, một cuốn sách dạy chữ Hán bằng thơ lục bát chữ Nôm, mỗi chữ Hán đi kèm nghĩa tiếng Việt. Ông cũng diễn ca một số kinh điển Nho giáo sang chữ Nôm cho dễ học. Đây là những việc cho thấy ông coi trọng tiếng Việt như một phương tiện học tập, không chỉ coi chữ Hán là chữ của sách vở.
Bộ sử Cương mục
Năm 1856 ông ra lệnh cho Quốc sử quán biên soạn Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bộ sử chép từ thời Hùng Vương đến cuối thời Lê. Vua trực tiếp đọc và viết lời phê (ngự phê) vào nhiều đoạn, bàn về đúng sai của các nhân vật lịch sử. Bộ sách hoàn thành vào những năm cuối đời ông và được in sau khi ông mất. Đến nay đây vẫn là một trong những bộ sử quan trọng nhất của Việt Nam.
Thơ
Tự Đức làm thơ chữ Hán, chữ Nôm rất nhiều, có cả một tập vịnh các nhân vật và sự kiện lịch sử Việt Nam. Ông cũng mở các cuộc xướng hoạ thơ trong triều, có lúc hoạ thơ với các hoàng thân như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương.
Ba mươi sáu năm và cuộc xâm lược của Pháp
Triều Tự Đức trùng với giai đoạn khó khăn nhất của nhà Nguyễn. Ở đây chỉ ghi những quyết định chính của vua, không đi vào diễn biến chiến sự.
| Năm | Việc |
|---|---|
| 1848 | Bắt đầu niên hiệu Tự Đức |
| 1854 | Hồng Bảo chết trong ngục |
| 1856 | Lệnh soạn Khâm định Việt sử thông giám cương mục |
| 1858 | Pháp – Tây Ban Nha nổ súng ở Đà Nẵng |
| 1859 | Pháp chiếm thành Gia Định |
| 1862 | Ký hoà ước Nhâm Tuất, nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ |
| 1863 | Cử sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp xin chuộc đất, không thành |
| 1866 | Biến cố Đoàn Trưng (giặc chày vôi) ở kinh thành |
| 1867 | Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ; Phan Thanh Giản tự vẫn |
| 1874 | Ký hoà ước Giáp Tuất, thừa nhận cả Nam Kỳ thuộc Pháp |
| 1882 | Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai |
| 1883 | Tự Đức mất ở Huế |
Trong những năm này, triều đình nhận được nhiều bản điều trần xin cải cách, nổi tiếng nhất là của Nguyễn Trường Tộ, đề nghị mở cửa buôn bán, gửi người đi học kỹ thuật phương Tây, cải tổ quân đội. Tự Đức đọc, có lúc tỏ ý quan tâm, có cho một số người đi học ở nước ngoài. Nhưng triều đình chia rẽ, phần đông quan lại bảo thủ, ngân khố cạn, và các đề nghị phần lớn không được thực hiện.
Biến cố Đoàn Trưng và lăng Khiêm
Từ năm 1864 triều đình xây khu lăng cho vua, ban đầu gọi là Vạn Niên Cơ. Việc xây kéo dài, lính và dân phu bị bắt làm cực nhọc. Năm 1866, anh em Đoàn Trưng, Đoàn Hữu Ái cùng một nhóm người, lợi dụng sự bất mãn đó, mưu lật đổ Tự Đức để lập người khác, nhưng thất bại. Dân gian gọi là "giặc chày vôi" vì có kể những người tham gia dùng chày giã vôi làm vũ khí.
Sau biến cố, vua đổi tên công trình thành Khiêm Cung (sau gọi Khiêm Lăng). Chữ "Khiêm" (khiêm tốn) như một lời tự nhắc.
Văn bia tự thuật
Trong lăng có tấm bia đá lớn khắc bài Khiêm Cung ký do chính Tự Đức viết. Thông thường bia lăng vua do người con kế vị soạn để ca ngợi cha. Tự Đức không có con, nên ông tự viết: kể lại đời mình, bệnh tật, nỗi lo việc nước, và nhận mình có nhiều lỗi lầm. Đây là một văn bản hiếm có, nơi một ông vua tự nhìn lại mình bằng giọng buồn và khá thành thật.
Cái chết và di chiếu
Tháng 7 năm 1883, khi quân Pháp đang mở rộng đánh chiếm Bắc Kỳ, Tự Đức mất ở Huế, thọ 55 tuổi (tuổi ta). Di chiếu chọn con nuôi lớn là Ưng Chân nối ngôi, nhưng có lời nói Ưng Chân có tật xấu, và giao việc phò tá cho ba đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết. Chính những dòng ấy trong di chiếu đã mở đường cho việc phế lập liên tiếp ngay sau đó.
Ông được đưa vào Khiêm Lăng. Có giai thoại kể thi hài vua được chôn ở một nơi bí mật khác, những người đưa tang không biết chỗ thật. Đây là giai thoại, chưa có bằng chứng xác nhận.
Đánh giá: người học trò giỏi, người cầm lái gặp bão
Trong thế kỷ 20, Tự Đức thường bị phê phán nặng: để mất Nam Kỳ, không nghe lời cải cách, đánh giá thấp sức mạnh phương Tây. Nhiều sách gắn ông với hình ảnh một ông vua nhu nhược.
Các nghiên cứu gần đây có cái nhìn nhiều chiều hơn: ông là người thông minh, chăm chỉ, lo nghĩ thật sự cho đất nước, nhưng bị bao vây bởi một bộ máy bảo thủ, một nền kinh tế kiệt quệ vì nổi loạn và thiên tai, và một đối thủ có vũ khí vượt trội. Câu hỏi "nếu vua quyết cải cách thì có cứu được không" đến nay vẫn được tranh luận, không có đáp án dứt khoát.
Điều ít ai phủ nhận: những gì ông để lại cho văn hoá và sử học, từ bộ Cương mục đến các sách học chữ, có giá trị lâu dài hơn nhiều quyết định chính trị của ông.
Góc nhìn hôm nay
- Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng, Huế): khu lăng có hồ, đình, nhà thuỷ tạ, nơi vua lúc sống thường đến đọc sách, làm thơ. Tìm tấm bia Khiêm Cung ký.
- Đọc: bản dịch Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chú ý các đoạn ngự phê; bản dịch Khiêm Cung ký.
- Đọc thêm: các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ để hiểu những lựa chọn đã đặt ra trước triều đình.
Câu hỏi thường gặp
Vua Tự Đức trị vì bao lâu?
Tự Đức trị vì 36 năm, từ cuối năm 1847 đến tháng 7 năm 1883, lâu nhất trong các vua nhà Nguyễn. Niên hiệu Tự Đức bắt đầu được dùng từ năm 1848.
Vì sao vua Tự Đức không có con?
Ông bị bệnh đậu mùa nặng thuở nhỏ; nhiều nghiên cứu cho rằng di chứng của bệnh khiến ông không có con. Ông nhận ba người cháu làm con nuôi là Ưng Chân, Ưng Kỷ và Ưng Đăng.
Khiêm Cung ký là gì?
Đó là bài văn bia do chính vua Tự Đức viết, khắc trong lăng của ông. Vì không có con để soạn văn bia, vua tự kể lại đời mình, bệnh tật và nhận mình có nhiều lỗi lầm.
Giặc chày vôi là gì?
Đó là tên dân gian gọi biến cố năm 1866 do anh em Đoàn Trưng cầm đầu, lợi dụng sự bất mãn của lính và phu xây lăng vua để mưu lật đổ Tự Đức. Cuộc biến thất bại.
Ai nối ngôi vua Tự Đức?
Theo di chiếu, con nuôi Ưng Chân lên ngôi, tức Dục Đức, nhưng chỉ ba ngày sau đã bị các đại thần phế. Sau đó là thời kỳ hơn một năm có bốn vua liên tiếp.