Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua nhà Nguyễn

Năm 1883–1884: bốn vị vua nhà Nguyễn lên ngôi trong hơn một năm

Từ 7/1883 đến 8/1884, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc rồi Hàm Nghi lần lượt lên ngôi do hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lập, phế giữa lúc ký hoà ước bảo hộ.

Năm 1883–1884: bốn vị vua nhà Nguyễn lên ngôi trong hơn một năm

Từ tháng 7 năm 1883 đến tháng 8 năm 1884, triều Nguyễn có bốn vị vua lần lượt lên ngôi: Dục Đức (ba ngày), Hiệp Hoà (khoảng bốn tháng), Kiến Phúc (khoảng tám tháng) và Hàm Nghi. Người quyết định phế, lập là hai đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Cùng lúc ấy, triều đình buộc phải ký hai hoà ước (1883 và 1884) thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp. Đây là quãng thời gian rối loạn nhất của hoàng gia nhà Nguyễn.

Bối cảnh: một ngai vàng không người nối rõ ràng

Vua Tự Đức mất tháng 7 năm 1883 mà không có con ruột. Ông có ba con nuôi: Ưng Chân, Ưng Kỷ, Ưng Đăng, và một người em út là Hồng Dật. Di chiếu chọn Ưng Chân, người lớn nhất, nhưng lại kèm lời chê Ưng Chân có tật mắt và tính ham chơi. Di chiếu cũng giao quyền phò tá cho ba đại thần: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.

Trong khi đó quân Pháp đang đánh ở Bắc Kỳ, và đang chuẩn bị tấn công thẳng vào cửa biển Thuận An, cửa ngõ của kinh đô Huế. Triều đình chia làm hai khuynh hướng: hoà với Pháp để giữ ngai vàng, hay chống đến cùng. Tôn Thất Thuyết nắm quân đội và theo khuynh hướng chống.

Dục Đức: ba ngày trên ngai

Ưng Chân (1852–1883) là con của Thoại Thái vương Hồng Y, anh của Tự Đức. Ông được đưa lên ngôi ngay sau khi Tự Đức mất. Chỉ ba ngày sau, các đại thần phụ chính phế ông, với lý do ông đã tự ý sửa đoạn di chiếu chê mình trước khi đọc, và có hành vi bất kính trong lễ tang. Sử nhà Nguyễn chép theo hướng này; các nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng lý do thật là các đại thần thấy ông khó điều khiển.

Ông bị giam và mất trong ngục vài tháng sau vì đói, khát, khi khoảng 31 tuổi. Ông không có niên hiệu vì chưa kịp đặt. Tên "Dục Đức" là tên gọi đời sau, lấy từ tên điện nơi ông ở thời hoàng tử. Con trai ông về sau là vua Thành Thái, và cháu nội là vua Duy Tân.

Hiệp Hoà: bốn tháng và một hoà ước

Người được đưa lên thay là Hồng Dật (1847–1883), con út của vua Thiệu Trị, em của Tự Đức, khi ấy khoảng 36 tuổi. Ông lấy niên hiệu Hiệp Hoà.

Tháng 8 năm 1883, quân Pháp đánh chiếm cửa Thuận An. Triều đình phải ký hoà ước Harmand (Quý Mùi, 1883), thừa nhận sự bảo hộ của Pháp với cả nước, cắt Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kỳ thuộc Pháp, và đặt quân Pháp ở nhiều nơi.

Hiệp Hoà có xu hướng hoà với Pháp và tìm cách giảm quyền của hai đại thần phụ chính. Tháng 11 năm 1883, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phế ông, rồi buộc ông phải chết. Ông làm vua khoảng bốn tháng.

Kiến Phúc: đứa trẻ 14 tuổi

Người kế tiếp là Ưng Đăng (1869–1884), con nuôi thứ ba của Tự Đức, khi ấy 14 tuổi. Ông lên ngôi đầu tháng 12 năm 1883, niên hiệu Kiến Phúc.

Dưới triều ông, tháng 6 năm 1884, triều đình ký hoà ước Patenôtre (Giáp Thân), có sửa lại vài điều của hoà ước 1883 (trả lại Bình Thuận, điều chỉnh ranh giới các vùng) nhưng giữ nguyên khung chính: Việt Nam chịu sự bảo hộ của Pháp. Ấn vàng mà nhà Thanh phong cho vua Việt bị nấu chảy ngay tại sứ quán Pháp, một hành động mang tính biểu tượng cắt đứt quan hệ phiên thuộc với nhà Thanh.

Tháng 7 năm 1884, Kiến Phúc mất vì bệnh khi 15 tuổi. Có những lời đồn khác nhau quanh cái chết của ông, liên quan đến các xung đột trong cung; những lời đồn này chưa bao giờ được chứng minh. Ông được an táng ở Bồi Lăng, trong khu lăng Tự Đức.

Hàm Nghi: người thứ tư

Chỉ vài ngày sau, đầu tháng 8 năm 1884, hai đại thần đưa Ưng Lịch (1871–1944), em của Kiến Phúc, khi ấy 13 tuổi, lên ngôi, niên hiệu Hàm Nghi. Lần này họ không xin phép phía Pháp trước, khiến quan hệ hai bên càng căng thẳng.

Gần một năm sau, tháng 7 năm 1885, sau khi cuộc tấn công đồn Pháp ở kinh thành thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi rời Huế, phát hịch Cần Vương kêu gọi chống Pháp. Đó là một câu chuyện khác, và cuộc đời lưu đày của Hàm Nghi ở Algérie cũng là một câu chuyện riêng.

Bảng tổng hợp bốn vị vua

VuaTên huýQuan hệ với Tự ĐứcTuổi lên ngôiThời gian ở ngôiKết cục
Dục ĐứcƯng ChânCon nuôi (cháu gọi bằng chú)313 ngày (7/1883)Bị phế, mất trong ngục
Hiệp HoàHồng DậtEm út35Khoảng 4 tháng (7–11/1883)Bị phế, buộc phải chết
Kiến PhúcƯng ĐăngCon nuôi14Khoảng 8 tháng (12/1883–7/1884)Mất vì bệnh
Hàm NghiƯng LịchCháu, em ruột Kiến Phúc13Từ 8/1884Rời kinh 1885, bị bắt 1888, lưu đày

Tuổi trong bảng tính theo năm dương lịch; sách tính theo tuổi ta sẽ ghi cao hơn một tuổi.

Ai thật sự cầm quyền

Trong hơn một năm, quyền lực thực tế nằm trong tay Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Trần Tiễn Thành, đại thần phụ chính thứ ba, bị giết trong biến cố cuối năm 1883 vì bị cho là ủng hộ Hiệp Hoà.

Đánh giá về hai người này đến nay rất khác nhau. Một hướng nhìn họ như những người yêu nước, cố giữ ngai vàng khỏi tay những ông vua có xu hướng thân Pháp, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến. Hướng khác chê họ chuyên quyền, coi vua như con cờ, làm hoàng tộc chia rẽ đúng vào lúc cần đoàn kết nhất. Với Nguyễn Văn Tường, sự đánh giá càng phức tạp vì sau năm 1885 ông ở lại Huế và hợp tác với Pháp một thời gian trước khi bị đày.

Dân gian có truyền đôi câu đối chữ Hán, trong đó có vế "tứ nguyệt tam vương" (bốn tháng ba vua) để nói về cảnh vua lên vua xuống liên tục, như một lời chê triều đình. Nguồn gốc câu này không rõ, có nhiều dị bản.

Hậu quả và góc nhìn hôm nay

Hơn một năm này để lại ba hệ quả lớn. Thứ nhất, hai hoà ước 1883 và 1884 đặt nền pháp lý cho chế độ bảo hộ của Pháp suốt sáu mươi năm sau. Thứ hai, uy tín của ngai vàng bị tổn thương nặng: người dân thấy vua có thể bị lập, phế tuỳ ý. Thứ ba, những mâu thuẫn trong hoàng tộc kéo dài sang các đời sau.

  • Ở Huế: lăng Dục Đức (An Lăng), nơi cũng chôn vua Thành Thái và vua Duy Tân; Bồi Lăng của Kiến Phúc trong khu Khiêm Lăng; lăng Hiệp Hoà nhỏ và ít người biết.
  • Đọc: phần chép về các năm 1883–1884 trong Đại Nam thực lục chính biên đệ ngũ, lục kỷ; các nghiên cứu hiện đại về Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường để thấy các cách đánh giá khác nhau.

Câu hỏi thường gặp

Bốn vua nhà Nguyễn lên ngôi năm 1883–1884 là ai?

Đó là Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc và Hàm Nghi. Ba người đầu ở ngôi rất ngắn, từ ba ngày đến khoảng tám tháng, trước khi Hàm Nghi lên ngôi tháng 8 năm 1884.

Vua Dục Đức làm vua bao lâu?

Dục Đức (Ưng Chân) chỉ ở ngôi ba ngày vào tháng 7 năm 1883 trước khi bị các đại thần phụ chính phế. Ông bị giam và mất trong ngục vài tháng sau.

Ai phế các vua năm 1883–1884?

Hai đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, người được vua Tự Đức giao phò tá trong di chiếu. Họ phế Dục Đức, Hiệp Hoà và lập Kiến Phúc, Hàm Nghi.

Hoà ước Harmand và Patenôtre khác nhau thế nào?

Hoà ước Harmand ký tháng 8 năm 1883 dưới triều Hiệp Hoà; hoà ước Patenôtre ký tháng 6 năm 1884 dưới triều Kiến Phúc, sửa vài điều như trả lại Bình Thuận. Cả hai đều thừa nhận sự bảo hộ của Pháp với Việt Nam.

Vua Kiến Phúc mất năm bao nhiêu tuổi?

Kiến Phúc mất tháng 7 năm 1884 khi mới 15 tuổi, vì bệnh. Ông được an táng ở Bồi Lăng, trong khu lăng vua Tự Đức ở Huế.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác