Hoàng ThượngWiki
Tìm
Hoàng đế Trung Hoa

Hốt Tất Liệt: hoàng đế Mông Cổ dựng nhà Nguyên và kinh đô Đại Đô

Hốt Tất Liệt (1215–1294), cháu Thành Cát Tư Hãn, làm Đại hãn năm 1260, đặt quốc hiệu Đại Nguyên năm 1271, diệt Nam Tống năm 1279, nhưng các cuộc viễn chinh đều thất bại.

Hốt Tất Liệt: hoàng đế Mông Cổ dựng nhà Nguyên và kinh đô Đại Đô

Hốt Tất Liệt (Kublai, 1215–1294) là cháu nội Thành Cát Tư Hãn, lên làm Đại hãn Mông Cổ năm 1260, đặt quốc hiệu Đại Nguyên năm 1271 và diệt Nam Tống năm 1279, trở thành người ngoại tộc đầu tiên cai trị toàn bộ Trung Hoa. Ông xây kinh đô Đại Đô ở chỗ nay là Bắc Kinh, phát hành tiền giấy, mở đường vận tải, đón cả sứ giả lẫn thương nhân từ châu Âu tới Ba Tư. Nhưng các cuộc viễn chinh ra biển của ông, sang Nhật Bản, Đại Việt, Champa, Java, đều thất bại, và cách chia dân theo đẳng cấp để lại vết rạn lâu dài.

Người con của Tolui và Sorghaghtani

Hốt Tất Liệt là con thứ tư của Đà Lôi (Tolui), con út Thành Cát Tư Hãn, và bà Sorghaghtani Beki, một người phụ nữ theo Kitô giáo Nestorius mà sử gia Ba Tư Rashid al-Din và sử Nguyên đều khen là khôn ngoan. Bà cho các con học cả cưỡi ngựa bắn cung lẫn cách đối xử với dân định cư, và giữ quan hệ tốt với nhiều tôn giáo.

Năm 1251, anh cả của ông là Mông Kha (Möngke) lên làm Đại hãn và giao cho Hốt Tất Liệt cai quản vùng đất Hán ở phía nam sa mạc Gobi. Khác với nhiều quý tộc Mông Cổ coi ruộng đồng chỉ là nơi vơ vét, ông quy tụ quanh mình các mưu sĩ người Hán như nhà sư Lưu Bỉnh Trung, Diêu Xu, Hứa Hoành, và học cách cai trị một xã hội nông nghiệp. Năm 1253, ông chỉ huy quân đánh nước Đại Lý (Vân Nam).

Cuộc tranh ngôi với em ruột

Năm 1259, Mông Kha mất khi đang đánh thành Điếu Ngư (Tứ Xuyên). Năm 1260, Hốt Tất Liệt được các quý tộc ủng hộ mình tôn làm Đại hãn ở Khai Bình (sau gọi Thượng Đô, nay thuộc Nội Mông). Gần như cùng lúc, em ruột ông là A Lý Bất Ca (Ariq Böke) cũng được tôn làm Đại hãn ở Karakorum, thủ phủ truyền thống của người Mông Cổ.

Cuộc nội chiến kéo dài đến năm 1264, khi A Lý Bất Ca đầu hàng. Hốt Tất Liệt thắng nhờ nắm được nguồn lương thực của đất Hán. Nhưng chiến thắng ấy có giá: các hãn quốc phía tây như Kim Trướng, Sát Hợp Đài chỉ còn thừa nhận ông trên danh nghĩa, đế quốc Mông Cổ thống nhất thực tế đã tan thành nhiều mảnh.

Đại Nguyên và Đại Đô

Năm 1271, ông ban chiếu đặt quốc hiệu "Đại Nguyên", lấy ý từ câu "Đại tai Càn Nguyên" (lớn thay đức nguyên của trời) trong Kinh Dịch. Đây là triều đại đầu tiên ở Trung Hoa lấy quốc hiệu theo một ý nghĩa trừu tượng chứ không theo tên đất phong.

Kinh đô mới Đại Đô (người Mông Cổ, Thổ gọi là Khanbaliq, "thành của Hãn") được xây từ năm 1267, quy hoạch vuông vức theo sách Chu lễ, do Lưu Bỉnh Trung và kiến trúc sư người Hồi Diệc Hắc Điệp Nhi tham gia. Trục chính của Bắc Kinh ngày nay còn mang dấu vết bản quy hoạch này. Mùa hè, triều đình lên Thượng Đô; mùa đông về Đại Đô, giữ nếp du mục giữa hai kinh.

Năm 1276 quân Nguyên vào Lâm An (Hàng Châu), kinh đô Nam Tống. Năm 1279, những người trung thành cuối cùng của Nam Tống thất bại ở Nhai Sơn (Quảng Đông). Lần đầu tiên, cả Trung Hoa nằm dưới quyền một triều đại do người du mục lập ra.

Cai trị một đế quốc nhiều dân tộc

Lĩnh vựcViệc làm
Tiền tệPhát hành tiền giấy "Trung Thống sao" (1260), dùng rộng khắp; về sau in quá nhiều gây lạm phát
Chữ viếtGiao Quốc sư Bát Tư Ba (Phags-pa), một lạt ma Tây Tạng, tạo bộ chữ mới (1269) để viết tiếng Mông Cổ, Hán và các thứ tiếng khác
Thiên văn, lịchQuách Thủ Kính dựng đài quan sát, làm lịch "Thụ Thời" (ban hành 1281), dùng hơn 360 năm
Giao thôngMở rộng hệ thống trạm dịch; đào sông Thông Huệ (1293) nối Đại Vận Hà vào tận Đại Đô; mở đường vận lương bằng biển
Tôn giáoTrọng Phật giáo Tây Tạng nhưng bảo trợ cả Đạo giáo, Hồi giáo, Kitô giáo
Người phục vụDùng cả người Mông Cổ, Hán, Hồi, Uyghur, Tây Tạng, và người phương Tây

Mặt trái là cách phân tầng dân chúng. Sách vở thường nói nhà Nguyên chia dân làm bốn hạng: người Mông Cổ, người Sắc mục (các tộc Trung Á, Tây Á), người Hán (dân miền bắc cũ thuộc Kim) và người Nam (dân Nam Tống cũ). Giới nghiên cứu hiện nay nhấn mạnh rằng đây không phải một bộ luật thành văn duy nhất, mà là tập hợp nhiều quy định về bổ nhiệm, thi cử, hình phạt có lợi cho người Mông Cổ, Sắc mục. Dù gọi thế nào, nó khiến dân Nam Tống cũ cảm thấy bị gạt ra lề, mầm mống của các cuộc khởi nghĩa cuối Nguyên.

Ông cũng không mở lại khoa cử; việc thi cử chỉ được khôi phục năm 1315, sau khi ông mất. Tài chính bị giao cho những đại thần như A Hợp Mã (Ahmad), Tang Ca, những người bị sử Nguyên gọi là gian thần vì vơ vét, và cả hai đều có kết cục bi đát.

Ra ngoài biên cương: viễn chinh và khách phương xa

Hốt Tất Liệt muốn các nước xung quanh thần phục. Ở đây chỉ nói các quyết định và kết quả:

  • Nhật Bản: hai lần đưa quân vượt biển năm 1274 và 1281, đều thất bại; lần thứ hai hạm đội bị bão đánh tan. Người Nhật gọi cơn bão là "kamikaze" (thần phong).
  • Đại Việt: quân Nguyên thất bại trước nhà Trần trong các năm 1285 và 1287–1288. Ông còn tính đánh lần nữa nhưng chưa kịp thì mất; người kế vị bãi bỏ kế hoạch. Diễn biến các cuộc kháng chiến này đã có bài riêng ở chuyên mục danh tướng.
  • Champa: quân Nguyên đổ bộ năm 1283 nhưng phải rút sau hai năm.
  • Java: cuộc viễn chinh 1292–1293 bị chính đồng minh tại chỗ (người sau lập nên Majapahit) quay lại đánh bật.

Những thất bại này tốn kém rất lớn và cho thấy giới hạn của sức mạnh kỵ binh khi phải đi biển hoặc vào vùng nhiệt đới.

Marco Polo và hình ảnh Đại hãn ở phương Tây

Hình ảnh Hốt Tất Liệt ở châu Âu gắn với cuốn sách kể chuyện du hành của Marco Polo, thương nhân Venice nói rằng đã phục vụ Đại hãn khoảng mười bảy năm (khoảng 1275–1292). Sách tả kỹ cung điện, tiền giấy, trạm dịch, cuộc đi săn. Từ lâu đã có tranh luận Marco Polo có thật tới Trung Hoa không, vì sách không nhắc tới trà, chữ Hán hay bó chân, và tên ông không xuất hiện trong sử Nguyên. Nhiều nhà nghiên cứu hiện nay vẫn cho rằng ông đã tới, vì có những chi tiết hành chính, muối, tiền tệ khớp với tư liệu Trung Hoa mà người không tới khó biết. Dẫu vậy, sách có nhiều chỗ phóng đại.

Những năm cuối và cái chết

Năm 1281, hoàng hậu Sát Tất (Chabi), người vợ được ông kính trọng, qua đời. Năm 1285, thái tử Chân Kim (Jingim), người được ông chuẩn bị kỹ để nối ngôi, cũng mất. Những năm cuối, theo các nguồn, ông ăn uống quá độ, béo phì, mắc bệnh gút. Ông mất năm 1294 ở Đại Đô, gần 80 tuổi; cháu nội là Thiết Mộc Nhĩ (Temür, Nguyên Thành Tông) kế vị.

Theo tục Mông Cổ, ông được an táng bí mật ở vùng thảo nguyên quê hương, nơi sử Nguyên gọi là "Khởi Liễn cốc". Đến nay chưa ai tìm thấy mộ ông, cũng như mộ Thành Cát Tư Hãn. Miếu hiệu nhà Nguyên dâng cho ông là Thế Tổ.

Đánh giá nhiều chiều

Nguyên sử, soạn đầu đời Minh, khen ông biết dùng người, dựng phép tắc, "quy mô rộng lớn". Sử gia Ba Tư thời đó coi ông là Đại hãn chính danh và hùng mạnh nhất. Các nhà nghiên cứu hiện đại như Morris Rossabi nhìn ông như một nhà cai trị cố dung hoà giữa truyền thống thảo nguyên và nhà nước nông nghiệp: ông đủ "Hán" để người Mông Cổ bảo thủ ngờ vực, nhưng không đủ "Hán" để giới nho sĩ phương nam chấp nhận. Nhà Nguyên chỉ tồn tại tới năm 1368, chưa tới một thế kỷ sau khi diệt Nam Tống.

Góc nhìn hôm nay

  • Xem gì: di chỉ Thượng Đô ở Nội Mông (Di sản Thế giới từ 2012); dấu vết tường thành Đại Đô (Nguyên Đại Đô thành viên ở Bắc Kinh); đài quan sát thiên văn Đăng Phong (Hà Nam) gắn với Quách Thủ Kính.
  • Đọc gì: Khubilai Khan: His Life and Times của Morris Rossabi là sách tiểu sử chuẩn mực; đọc kèm sách của Marco Polo như một nguồn cần đối chiếu.
  • Điều đáng nghĩ: một đế quốc lớn nhất thế giới lúc ấy lại tan rã từ bên trong ngay khi người đứng đầu chiến thắng; đất rộng chưa chắc là sức mạnh nếu không giữ được sự đồng lòng.

Câu hỏi thường gặp

Hốt Tất Liệt là ai?

Hốt Tất Liệt (1215–1294) là cháu nội Thành Cát Tư Hãn, Đại hãn Mông Cổ từ năm 1260, người lập nhà Nguyên năm 1271 và thống nhất Trung Hoa năm 1279. Miếu hiệu của ông là Nguyên Thế Tổ.

Nhà Nguyên được thành lập năm nào?

Hốt Tất Liệt đặt quốc hiệu Đại Nguyên năm 1271. Đến năm 1279, sau khi Nam Tống thất bại ở Nhai Sơn, nhà Nguyên làm chủ toàn bộ Trung Hoa.

Hốt Tất Liệt và Thành Cát Tư Hãn có quan hệ gì?

Hốt Tất Liệt là con của Đà Lôi (Tolui), con út Thành Cát Tư Hãn, tức là cháu nội của Thành Cát Tư Hãn.

Hốt Tất Liệt có đánh Việt Nam không?

Có. Dưới thời ông, quân Nguyên hai lần đánh Đại Việt vào các năm 1285 và 1287–1288 và đều thất bại trước nhà Trần. Trước đó, năm 1258, quân Mông Cổ đã vào Đại Việt dưới thời Mông Kha.

Mộ Hốt Tất Liệt ở đâu?

Không ai biết. Theo tục Mông Cổ, ông được an táng bí mật ở thảo nguyên, nơi sử Nguyên gọi là Khởi Liễn cốc, và đến nay chưa được tìm thấy.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác