Khang Hy (1654–1722), tên Ái Tân Giác La Huyền Diệp, là hoàng đế thứ tư nhà Thanh (thứ hai kể từ khi vào Trung Nguyên), trị vì 61 năm từ 1661 đến 1722, lâu nhất trong lịch sử các hoàng đế Trung Hoa. Ông lên ngôi lúc 8 tuổi, tự tay bắt quyền thần Ngao Bái năm 15 tuổi, dẹp loạn Tam phiên, và đặt nền cho thời thịnh trị mà sử gọi là "Khang – Càn thịnh thế". Điều khiến ông khác nhiều hoàng đế là sự ham học: ông học toán, thiên văn, địa lý với các giáo sĩ châu Âu, và cho soạn những bộ sách lớn như Khang Hy tự điển.
Đứa trẻ sống sót qua bệnh đậu mùa
Huyền Diệp là con thứ ba của vua Thuận Trị. Đầu năm 1661, Thuận Trị mất vì bệnh đậu mùa khi mới ngoài hai mươi tuổi. Theo các ghi chép đương thời, trong đó có tư liệu của giáo sĩ Dòng Tên Adam Schall, một lý do khiến Huyền Diệp được chọn là cậu đã từng mắc đậu mùa và qua khỏi, nên không sợ chết vì bệnh này nữa. Mặt ông về sau còn vết rỗ.
Vua mới 8 tuổi (tính tuổi ta), niên hiệu Khang Hy. Bà nội là Hiếu Trang thái hoàng thái hậu, người Mông Cổ, là chỗ dựa lớn nhất của ông thuở nhỏ. Việc triều chính giao cho bốn đại thần phụ chính: Sách Ni, Tô Khắc Tát Cáp, Át Tất Long và Ngao Bái.
Bắt Ngao Bái năm 15 tuổi
Trong bốn người, Ngao Bái dần lấn át cả ba người kia, dùng quyền xử tội những người chống đối, kể cả đại thần phụ chính Tô Khắc Tát Cáp. Năm 1667 Khang Hy bắt đầu thân chính, nhưng Ngao Bái vẫn nắm thực quyền.
Năm 1669, ông chuẩn bị một kế: tập hợp một nhóm thiếu niên quý tộc, giả vờ cùng chơi vật Bố khố (môn vật truyền thống của người Mãn), rồi khi Ngao Bái vào chầu thì cho họ khống chế và bắt giữ. Ngao Bái bị kể tội và giam đến chết, nhưng không bị xử tử vì công lao trước đó. Chuyện này có trong sử Thanh, dù các chi tiết ly kỳ trong phim truyện phần lớn là thêm thắt.
Ba việc lớn ông tự ghi trên cột
Về sau Khang Hy kể rằng khi mới thân chính, ông xác định ba việc lớn là Tam phiên, trị sông và vận tải lương thực, và cho viết lên cột trong cung để ngày ngày nhìn thấy.
- Tam phiên (1673–1681): ba tướng người Hán đã giúp nhà Thanh vào Trung Nguyên, đứng đầu là Ngô Tam Quế ở Vân Nam, được phong vương ở miền nam, nắm quân và thuế riêng. Khi Khang Hy quyết định bãi phiên, họ nổi dậy, chiếm gần nửa nước. Nhiều đại thần khuyên nhượng bộ; ông kiên quyết đánh. Tám năm sau, loạn được dẹp. Đây là quyết định củng cố hẳn nhà Thanh.
- Trị Hoàng Hà: ông dùng Cận Phụ làm tổng đốc trị sông, nhiều lần đích thân xem đê. Sáu lần nam tuần của ông (1684–1707) phần lớn gắn với việc kiểm tra thuỷ lợi.
- Vận tải lương thực: giữ thông Đại Vận Hà để lúa gạo Giang Nam lên được Bắc Kinh.
Năm 1683, nhà Thanh thu phục Đài Loan từ tay họ Trịnh. Năm 1689, Thanh và Nga ký Hiệp ước Nerchinsk, hiệp ước đầu tiên của Trung Hoa với một nước châu Âu, có bản bằng tiếng Latin do các giáo sĩ Dòng Tên làm phiên dịch. Từ 1690 đến 1697, ông ba lần thân chinh đánh thủ lĩnh Chuẩn Cát Nhĩ là Cát Nhĩ Đan (Galdan).
Một hoàng đế ngồi học hình học
Đây là mặt khiến Khang Hy nổi bật nhất. Giáo sĩ người Bỉ Ferdinand Verbiest (tên Hán là Nam Hoài Nhân) dạy ông thiên văn, toán học, và được giao đứng đầu Khâm thiên giám sau khi chứng minh lịch phương Tây tính đúng hơn trong một cuộc thử nghiệm đo bóng mặt trời năm 1668–1669. Về sau, các giáo sĩ Pháp Joachim Bouvet và Jean-François Gerbillon giảng hình học Euclid cho ông bằng tiếng Mãn, ông học đều đặn nhiều giờ mỗi ngày trong một thời gian. Ông còn học đàn, giải phẫu, và tự làm phép tính.
Năm 1693, ông bị sốt rét; các giáo sĩ Pháp dâng vỏ cây canh-ki-na (quinine) và ông khỏi bệnh. Để tạ ơn, ông cho họ đất xây nhà thờ ở Bắc Kinh.
Ông cho các giáo sĩ cùng quan lại đo đạc toàn quốc, kết quả là bản đồ Hoàng dư toàn lãm đồ (hoàn thành khoảng 1717–1718), bản đồ chính xác nhất về Trung Hoa thời đó, được châu Âu dùng làm nguồn suốt thế kỷ 18.
Những bộ sách mang tên ông
| Tên | Năm | Nội dung |
|---|---|---|
| Toàn Đường thi | 1705–1707 | Gom gần 49.000 bài thơ của hơn 2.200 nhà thơ đời Đường |
| Bội văn vận phủ | 1711 | Từ điển điển cố, từ ngữ xếp theo vần |
| Khang Hy tự điển | 1716 | Hơn 47.000 chữ, xếp theo 214 bộ thủ; cách xếp bộ này còn dùng tới nay |
| Cổ kim đồ thư tập thành | Bắt đầu thời Khang Hy, in xong thời Ung Chính (1726) | Bách khoa toàn thư 10.000 quyển, in bằng chữ đồng rời |
Nhiều người Việt học chữ Hán đến nay vẫn tra chữ theo 214 bộ thủ mà không biết đó là hệ thống được chuẩn hoá trong Khang Hy tự điển.
Cai trị: khoan và nghiêm
Năm 1712, ông ra lệnh lấy số đinh năm 1711 làm mức cố định, từ nay người sinh thêm không phải chịu thêm thuế đinh ("thịnh thế tư đinh, vĩnh bất gia phú"). Ông nhiều lần miễn thuế cho các tỉnh. Để lôi kéo nho sĩ người Hán, năm 1679 ông mở khoa "Bác học hồng từ" mời các danh sĩ, nhiều người trong đó vốn còn nhớ nhà Minh.
Nhưng ông không phải chỉ khoan hoà. Án "Nam Sơn tập" năm 1711, vì một cuốn sách dùng niên hiệu các vua Nam Minh, làm tác giả Đới Danh Thế bị xử và nhiều người liên luỵ. Ông cũng giữ chặt sự phân biệt Mãn – Hán trong quân đội, chức vụ chủ chốt.
Với Thiên Chúa giáo, ông ban sắc khoan dung năm 1692. Nhưng khi Giáo hoàng cấm tín đồ Trung Hoa cúng tổ tiên và tế Khổng Tử (cuộc "tranh luận lễ nghi"), ông phản ứng gay gắt và năm 1721 ra lệnh cấm truyền đạo.
Cuối đời: chín người con tranh ngôi
Khang Hy có 35 người con trai, khoảng hai mươi người sống tới tuổi trưởng thành. Ông lập con trai do hoàng hậu Hách Xá Lý sinh ra là Dận Nhưng làm thái tử từ năm 1675. Nhưng Dận Nhưng bị phế năm 1708, được phục năm 1709, rồi lại bị phế năm 1712. Từ đó các hoàng tử chia bè kéo cánh, đời sau gọi là "cửu tử đoạt đích". Chuyện này được kể kỹ ở bài về truyền ngôi; ở đây chỉ cần biết nó làm những năm cuối của ông rất mệt mỏi.
Ông mất cuối năm 1722 ở vườn Sướng Xuân, ngoại ô Bắc Kinh, thọ 69 tuổi (tính tuổi ta). Hoàng tử thứ tư Dận Chân lên ngôi, tức Ung Chính. Chuyện Ung Chính "sửa di chiếu", đổi chữ "truyền ngôi cho hoàng tử thứ mười bốn" thành "cho hoàng tử thứ tư", là giai thoại dân gian: di chiếu được viết cả chữ Mãn lẫn chữ Hán, và cách viết chữ thời ấy không cho phép đổi dễ như truyền thuyết kể. Tuy vậy, việc kế vị diễn ra trong không khí căng thẳng là có thật, và các nhà sử học vẫn còn bàn về tính chính đáng của nó.
Khang Hy được táng ở Cảnh Lăng trong khu Thanh Đông Lăng, tỉnh Hà Bắc. Miếu hiệu của ông là Thánh Tổ.
Đánh giá nhiều chiều
Sử Thanh và phần lớn sử gia Trung Hoa tôn ông là minh quân, đặt ngang Đường Thái Tông. Các nhà nghiên cứu phương Tây như Jonathan Spence, qua cuốn Emperor of China: Self-Portrait of K'ang-hsi dựng từ thư từ, chỉ dụ của chính ông, cho thấy một con người tò mò, thực tế, đa nghi và mệt mỏi về cuối đời. Người phê phán lưu ý: ông học khoa học phương Tây cho riêng mình và triều đình, nhưng không đưa vào giáo dục rộng rãi; khoảng cách với châu Âu vì thế không được thu hẹp. Thịnh thế của ông cũng gắn với việc kiểm soát tư tưởng mà cháu ông là Càn Long sẽ đẩy lên cao hơn.
Góc nhìn hôm nay
- Xem gì: Thanh Đông Lăng (Hà Bắc) với Cảnh Lăng; Sơn trang tránh nóng Thừa Đức, được xây từ năm 1703 thời Khang Hy; các dụng cụ thiên văn do Verbiest thiết kế còn trên Cổ Quan Tượng Đài ở Bắc Kinh.
- Đọc gì: sách của Jonathan Spence nói trên; với người học chữ Hán, thử tra một chữ trong Khang Hy tự điển bản số hoá để thấy cách sách được tổ chức.
- Xem phim cho đúng: các phim về Khang Hy thường dựng lại việc bắt Ngao Bái, dẹp Tam phiên khá sát sự kiện chính, nhưng hầu hết đối thoại, tình cảm hậu cung và chuyện "di chiếu" là hư cấu.
Câu hỏi thường gặp
Khang Hy trị vì bao lâu?
Khang Hy trị vì 61 năm, từ 1661 đến 1722, lâu nhất trong lịch sử hoàng đế Trung Hoa. Cháu ông là Càn Long ở ngôi 60 năm rồi nhường ngôi để không vượt ông nội.
Khang Hy lên ngôi năm mấy tuổi?
Ông lên ngôi đầu năm 1661, khi 8 tuổi theo cách tính tuổi ta (6 tuổi tròn). Bốn đại thần phụ chính điều hành triều chính thay ông những năm đầu.
Ngao Bái là ai?
Ngao Bái là một trong bốn đại thần phụ chính thời Khang Hy còn nhỏ, về sau chuyên quyền. Năm 1669, Khang Hy dùng một nhóm thiếu niên tập vật để bắt giữ ông.
Khang Hy tự điển có bao nhiêu chữ?
Bộ tự điển hoàn thành năm 1716, gồm hơn 47.000 chữ, xếp theo 214 bộ thủ. Hệ thống 214 bộ thủ này vẫn được dùng phổ biến đến nay.
Ung Chính có sửa di chiếu của Khang Hy không?
Chuyện đổi "thập tứ" thành "tứ" là giai thoại dân gian, không có chứng cứ và khó thực hiện vì di chiếu viết cả chữ Mãn. Tuy vậy, các nhà sử học vẫn tranh luận về hoàn cảnh Ung Chính được chọn.