Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua Lê, Mạc, Tây Sơn

Lê Thái Tông: vị vua lên ngôi năm 11 tuổi và khoa thi tiến sĩ 1442

Lê Thái Tông lên ngôi năm 1433 khi 11 tuổi, tự nắm quyền năm 1437 sau khi trừ Lê Sát, mở khoa thi tiến sĩ đầu tiên của Lê sơ năm 1442 rồi mất ở Lệ Chi Viên.

Lê Thái Tông: vị vua lên ngôi năm 11 tuổi và khoa thi tiến sĩ 1442

Lê Thái Tông, tên thật Lê Nguyên Long, là vị vua thứ hai nhà Lê sơ, lên ngôi năm 1433 khi mới 11 tuổi (tính theo tuổi ta) và mất năm 1442 lúc 20 tuổi. Chín năm trên ngai, ông đi từ một cậu bé nằm trong tay đại thần đến một ông vua tự nắm quyền, cho mở khoa thi tiến sĩ đầu tiên của nhà Lê, rồi mất đột ngột ở Lệ Chi Viên, mở ra một trong những nghi án lớn nhất sử Việt.

Vì sao con thứ được làm vua

Lê Nguyên Long sinh năm 1423, khi cha là Lê Lợi còn đang đánh quân Minh. Ông là con thứ. Con trưởng Lê Tư Tề từng cầm quân, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư chép về sau tính tình bạo ngược, nghi kỵ, nên đầu năm 1433 bị giáng. Lê Lợi lập Nguyên Long làm thái tử, vài tháng sau thì mất.

Tháng 8 năm 1433, cậu bé 11 tuổi lên ngôi, lấy niên hiệu Thiệu Bình (dùng từ năm sau, 1434). Lê Lợi đã dặn các công thần phò tá, đứng đầu là Lê Sát, giữ chức như tể tướng, cùng Lê Ngân và một số người khác.

Những năm trong tay phụ chính

Lê Sát là công thần Lam Sơn, có công lớn, nhưng theo Toàn thư thì ít học và chuyên quyền. Ông bãi chức những người không vừa ý, đưa người thân tín vào chỗ quan trọng, và có lúc can thiệp cả vào việc hậu cung của vua. Các sử thần thời Lê không giấu sự khó chịu với ông.

Trong những năm này, triều đình vẫn có những việc tốt. Nguyễn Trãi soạn Dư địa chí (khoảng 1435), sách địa lý chép đất đai, sản vật các vùng. Việc giáo dục, khảo hạch quan lại được nối tiếp từ đời Thái Tổ.

Cuộc bàn cãi về nhã nhạc

Năm 1437, triều đình giao cho Nguyễn Trãi và Lương Đăng định nhã nhạc (nhạc dùng trong lễ triều). Lương Đăng dâng bản định của mình, Nguyễn Trãi phản đối và xin thôi. Toàn thư chép lời ông khuyên vua, đại ý: thời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn; nay định lễ nhạc là đúng lúc, nhưng gốc của nhạc là lòng dân, xin vua thương nuôi muôn dân để nơi thôn cùng xóm vắng không còn tiếng oán sầu. Lời ấy hay được trích đến nay vì nói rõ một quan niệm: lễ nghi chỉ có nghĩa khi đời sống người dân yên ổn.

Năm 15 tuổi: tự nắm quyền

Năm 1437, khi khoảng 15 tuổi, Thái Tông ra tay. Lê Sát bị kể tội chuyên quyền, bị bãi chức rồi bị buộc phải tự vẫn. Cùng năm, Lê Ngân cũng bị khép tội và phải chết; Toàn thư chép ông bị tố lập bàn thờ cầu cho con gái là phi tần được vua yêu.

Sử thần đời sau chia hai ý. Có người cho rằng vua trẻ mà quyết đoán, lấy lại quyền cho ngai vàng. Có người thấy việc giết hai công thần đầu triều là quá tay, nhất là chuyện của Lê Ngân, tội trạng nghe như chuyện hậu cung hơn là chuyện phản nghịch. Điều chắc chắn là từ đây Thái Tông trực tiếp điều hành triều chính.

Khoa thi năm 1442 và chuyện học hành

Việc được nhớ nhiều nhất của Lê Thái Tông là khoa cử. Năm 1438, triều đình định lệ thi: thi Hương ở các đạo, thi Hội ở kinh đô, cứ ba năm một lần. Năm 1442 (Nhâm Tuất) mở khoa thi Hội lấy tiến sĩ đầu tiên của nhà Lê, Nguyễn Trực đỗ đầu, tức trạng nguyên.

Hơn bốn mươi năm sau, năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia đề danh tiến sĩ ở Văn Miếu, và khoa 1442 được khắc lên tấm bia đầu tiên. Ai đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội hôm nay mà tìm tấm bia sớm nhất, chính là tấm bia khoa thi thời Lê Thái Tông.

NămViệc
1423Lê Nguyên Long ra đời
1433Được lập thái tử, lên ngôi khi cha mất; Lê Sát phụ chính
1434Bắt đầu niên hiệu Thiệu Bình
1437Lê Sát, Lê Ngân bị buộc chết; vua tự nắm quyền; bàn định nhã nhạc
1438Định lệ thi Hương, thi Hội ba năm một lần
1440Đổi niên hiệu Đại Bảo; lập Nghi Dân làm thái tử
1441Phế Nghi Dân, lập con nhỏ Bang Cơ làm thái tử
1442Khoa thi tiến sĩ đầu tiên của Lê sơ; Lê Tư Thành ra đời; vua mất ở Lệ Chi Viên

Hậu cung và chuyện thái tử

Đời sống riêng của Thái Tông là phần sử thần chê nhiều nhất. Ông có nhiều phi tần, và chuyện ai được yêu, con ai được lập ảnh hưởng thẳng đến triều đình.

Năm 1440, con trưởng là Nghi Dân, do bà Dương Thị Bí sinh, được lập làm thái tử. Chỉ một năm sau, Dương Thị Bí bị giáng, Nghi Dân bị phế. Thái tử mới là Bang Cơ, con bà Nguyễn Thị Anh, khi ấy mới vài tháng tuổi. Năm 1442, bà Ngô Thị Ngọc Dao sinh hoàng tử Tư Thành, người sau này là Lê Thánh Tông.

Ba người con ấy về sau đều làm vua: Bang Cơ là Lê Nhân Tông, Nghi Dân cướp ngôi năm 1459, Tư Thành lên ngôi năm 1460. Những quyết định hấp tấp về ngôi thái tử của một ông vua chưa đến 20 tuổi đã gieo mầm cho cả một chuỗi biến động.

Cái chết ở Lệ Chi Viên

Tháng 8 năm 1442, Thái Tông đi tuần miền đông, duyệt quân ở Chí Linh, ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Người thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ theo hầu vua. Trên đường về, vua nghỉ ở vườn vải Lệ Chi Viên (vùng Gia Bình, Bắc Ninh) và mất đột ngột trong đêm.

Triều đình quy tội cho Nguyễn Thị Lộ và cả nhà Nguyễn Trãi. Hơn hai mươi năm sau, Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi. Vụ án Lệ Chi Viên có nhiều giả thuyết về nguyên nhân thật (vua mệt sau chuyến đi dài, bệnh đột ngột, hay một âm mưu trong cung), nhưng đó là câu chuyện riêng; ở đây chỉ cần nhớ cái chết ấy khép lại triều vua 20 tuổi và để lại ngai vàng cho một đứa trẻ chưa đầy hai tuổi.

Thái Tông được đưa về Lam Sơn, an táng ở Hựu Lăng, trong khu lăng mộ Lam Kinh.

Sử gia đánh giá Lê Thái Tông

Ngô Sĩ Liên và các sử thần thời Lê vừa khen vừa chê. Khen ở chỗ vua có tư chất thông minh, quyết đoán, biết lấy lại quyền từ tay đại thần, chăm lo việc thi cử. Chê ở chỗ ham sắc dục, nghe lời hậu cung, thay thái tử tuỳ ý, và giết công thần nặng tay.

Đọc hôm nay, người ta dễ quên rằng tất cả những điều đó xảy ra với một người từ 11 đến 20 tuổi. Nhiều việc tốt của triều này, như định lệ thi cử hay sách Dư địa chí, mang dấu ấn của những người quanh vua, đặc biệt là Nguyễn Trãi. Nhiều sai lầm cũng là sai lầm của tuổi trẻ được trao quyền lực tuyệt đối quá sớm.

Một triều vua chín năm mà để lại cả tấm bia tiến sĩ đầu tiên lẫn vụ án oan lớn nhất của thời Lê sơ: đó là hai mặt của Lê Thái Tông.

Góc nhìn hôm nay

  • Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội): tìm tấm bia khoa Nhâm Tuất 1442, dựng năm 1484.
  • Lam Kinh (Thanh Hoá): Hựu Lăng nằm trong khu lăng các vua Lê sơ.
  • Côn Sơn (Chí Linh, Hải Phòng ngày nay): nơi Nguyễn Trãi ở những năm cuối, cũng là chặng cuối chuyến đi của vua.
  • Đọc thêm: phần Thái Tông hoàng đế trong Đại Việt sử ký toàn thư; các bài nghiên cứu về vụ án Lệ Chi Viên để thấy sử liệu được dựng lại thế nào.

Câu hỏi thường gặp

Lê Thái Tông lên ngôi năm bao nhiêu tuổi?

Lê Thái Tông lên ngôi năm 1433 khi 11 tuổi theo cách tính tuổi ta (sinh năm 1423). Ông được các công thần phò tá, đứng đầu là Lê Sát, cho đến khi tự nắm quyền năm 1437.

Lê Thái Tông mất năm nào, vì sao?

Ông mất tháng 8 năm 1442 tại Lệ Chi Viên, Bắc Ninh, lúc 20 tuổi, sau chuyến tuần du miền đông. Triều đình quy tội cho Nguyễn Thị Lộ và gia đình Nguyễn Trãi; nguyên nhân thật của cái chết đến nay vẫn còn tranh cãi.

Khoa thi tiến sĩ đầu tiên của nhà Lê sơ là năm nào?

Là khoa Nhâm Tuất năm 1442 dưới triều Lê Thái Tông, Nguyễn Trực đỗ trạng nguyên. Tấm bia ghi tên các tiến sĩ khoa này được dựng ở Văn Miếu năm 1484.

Lê Thái Tông có mấy người con làm vua?

Ba người: Lê Nhân Tông (Bang Cơ), Lê Nghi Dân (cướp ngôi 1459) và Lê Thánh Tông (Tư Thành). Việc thay thái tử liên tục dưới triều ông là mầm của các biến động sau này.

Vì sao Lê Sát bị giết?

Lê Sát là đại thần phụ chính, bị kể tội chuyên quyền, ngăn cản vua và bãi chức người không vừa ý. Năm 1437 Thái Tông tự nắm quyền và buộc ông tự vẫn; sử thần đời sau có người khen vua quyết đoán, có người cho là quá tay với công thần.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác