Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua Lê, Mạc, Tây Sơn

Lê Thánh Tông: vị vua thi sĩ và hội Tao Đàn hai mươi tám vì sao

Lê Thánh Tông trị vì 38 năm (1460–1497), đưa Lê sơ lên đỉnh thịnh trị và làm thơ chữ Hán, chữ Nôm; khoảng 1494–1495 ông lập hội Tao Đàn, tự xưng nguyên soái.

Lê Thánh Tông: vị vua thi sĩ và hội Tao Đàn hai mươi tám vì sao

Lê Thánh Tông (Lê Tư Thành, 1442–1497) là vị vua thứ năm nhà Lê sơ, trị vì 38 năm (1460–1497) với hai niên hiệu Quang Thuận và Hồng Đức. Ông vừa là người đưa nhà Lê lên đỉnh thịnh trị, vừa là một nhà thơ thật sự: ông làm thơ chữ Hán, chữ Nôm, và khoảng năm 1494–1495 đứng đầu hội Tao Đàn gồm hai mươi tám văn thần, tự xưng Tao Đàn nguyên soái. Ít ông vua Việt nào để lại nhiều chữ nghĩa như ông.

Một hoàng tử sinh ngoài cung

Tư Thành là con thứ tư của Lê Thái Tông với bà Ngô Thị Ngọc Dao. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi bà mang thai thì bị gièm pha trong cung, phải ra ngoài và sinh con ở chùa Huy Văn (nay ở Hà Nội) năm 1442. Vài tháng sau, vua cha mất ở Lệ Chi Viên.

Ông lớn lên dưới triều người anh Lê Nhân Tông, được phong Bình Nguyên vương, có ăn học tử tế. Sử chép ông thông minh, ham đọc sách từ nhỏ. Không ai nghĩ ông sẽ làm vua: ngai vàng đã có anh cả đang ngồi, lại có người anh Nghi Dân lăm le.

Lên ngôi năm 1460

Năm 1459 Nghi Dân giết Nhân Tông, cướp ngôi. Tám tháng sau, giữa năm 1460, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt cùng nhiều người khác phế Nghi Dân và đón Tư Thành, khi ấy 18 tuổi, lên ngôi. Niên hiệu đầu tiên là Quang Thuận (1460–1469), sau đổi Hồng Đức (1470–1497).

Ông không phải người được chuẩn bị để làm vua. Nhưng ngay từ những năm đầu, ông cho thấy mình khác các vua trước: tự mình đọc tấu sớ, xem xét quan lại, và rất coi trọng chữ nghĩa. Một trong những việc sớm nhất là minh oan cho Nguyễn Trãi (năm 1464), cho tìm con cháu còn sót lại và tìm lại thơ văn của ông.

Làm vua: những việc chính

Bài này nói về con người Lê Thánh Tông; những cải cách lớn như chia đất nước thành 13 thừa tuyên hay bộ luật Hồng Đức chỉ nhắc qua. Danh sách dưới đây là những việc thường được gắn với tên ông:

  • Khoa cử: giữ đều đặn thi Hội ba năm một lần. Trong 38 năm có 12 khoa thi Hội, số tiến sĩ đông nhất trong các triều Lê sơ.
  • Bia tiến sĩ: năm 1484 cho dựng bia đề danh tiến sĩ ở Văn Miếu, bắt đầu từ khoa 1442. Đây là lý do Văn Miếu có hàng bia rùa như ta thấy hôm nay.
  • Luật và hành chính: chia lại địa giới, sắp xếp lại quan chế; bộ luật mang tên Hồng Đức (Quốc triều hình luật) hoàn chỉnh dần trong và sau triều ông.
  • Bản đồ: năm 1490 có bộ bản đồ cả nước, đời sau gọi là bản đồ Hồng Đức.
  • Phía nam: năm 1471 vua thân chinh Chiêm Thành, mở rộng lãnh thổ đến vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay. Ở đây chỉ ghi quyết định; diễn biến quân sự là chuyện khác.

Vị vua thi sĩ

Thơ chữ Hán

Thánh Tông làm thơ suốt đời, ở trong cung, trên đường hành quân, khi đi tuần các vùng. Phần lớn thơ chữ Hán của ông còn lại qua các tuyển tập đời sau. Ông thích vịnh cảnh núi sông, vịnh các nhân vật lịch sử, và hay viết thơ nhân dịp sự kiện. Đây là kiểu thơ của một ông vua: vừa bày tỏ cảm xúc, vừa nói quan niệm trị nước.

Ông cũng chủ trì những công trình văn chương lớn. Bộ Thiên Nam dư hạ tập (khoảng 1483) là bộ sách đồ sộ tập hợp chiếu, chế, luật lệ, thơ văn của triều đình; ngày nay chỉ còn một phần nhỏ.

Thơ chữ Nôm

Tập Hồng Đức quốc âm thi tập chứa hàng trăm bài thơ Nôm vịnh cảnh, vịnh vật, vịnh nhân vật, thường được gắn với vua và các văn thần. Cần nói rõ: tác giả từng bài trong tập này vẫn còn tranh cãi; văn bản ta có hôm nay được chép lại muộn, và nhiều bài khó xác định là của vua hay của người trong hội. Nhưng sự tồn tại của tập thơ cho thấy thơ Nôm đã được làm, được xướng hoạ ngay trong triều đình.

Hội Tao Đàn

Khoảng năm 1494–1495, vua lập hội Tao Đàn. Ông tự xưng Tao Đàn nguyên soái, Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm phó, cùng hai mươi tám văn thần, đời sau gọi là "Tao Đàn nhị thập bát tú" (hai mươi tám vì sao của Tao Đàn), lấy hình ảnh 28 chòm sao trong thiên văn cổ.

Hội làm việc theo lối xướng hoạ: vua làm một bài, các văn thần hoạ lại theo vần. Tập Quỳnh uyển cửu ca (1494) là ví dụ rõ nhất, gồm chín bài ca của vua với các chủ đề như mừng được mùa, ca ngợi vua hiền tôi giỏi, và các bài hoạ của bề tôi. Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận là những người viết tựa, bạt.

Nên hiểu Tao Đàn đúng bản chất: đó là một câu lạc bộ thơ của triều đình, nơi văn chương phục vụ lễ nghi và ca ngợi thời thịnh. Nó không phải một trường phái thơ phá cách. Giá trị của nó nằm ở chỗ khác: lần đầu tiên trong sử Việt, một ông vua tập hợp các nhà nho thành một nhóm sáng tác có tên gọi, có tổ chức, có tác phẩm để lại.

Tính cách qua sử chép

Toàn thư tả Thánh Tông siêng năng, đọc sách đến khuya, việc gì cũng tự xem. Ông khó tính với quan lại, có nhiều lời dụ răn quan tham. Ông cũng là người tự tin: nhiều câu trả lời của ông với sứ giả nước ngoài được chép lại với ý khẳng định vị thế của Đại Việt.

Nhưng không phải điều gì cũng đẹp. Bộ máy thời Hồng Đức rất chặt, luật lệ dày đặc; việc quản lý dân theo hộ, theo ruộng ngày càng nghiêm. Có sử gia hiện nay nhận xét thời Hồng Đức là đỉnh cao của nhà nước Nho giáo tập quyền, với tất cả mặt mạnh và mặt cứng nhắc của nó.

Truyền thuyết quanh Lê Thánh Tông

Dân gian có rất nhiều chuyện về Lê Thánh Tông đi vi hành, đối đáp với học trò, với cô gái hàng nước, với ông lái đò. Phần lớn là giai thoại, không có trong chính sử. Tập truyện chữ Hán Thánh Tông di thảo được gắn tên ông, nhưng nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ đó là tác phẩm của người đời sau. Giai thoại phản ánh hình ảnh ông trong lòng người: một ông vua giỏi chữ, thích chơi chữ, gần dân.

Mất và được thờ

Tháng giêng năm Đinh Tỵ (1497), Lê Thánh Tông mất, thọ 56 tuổi, sau 38 năm ở ngôi. Ông được an táng ở Chiêu Lăng, trong khu lăng mộ Lam Kinh (Thanh Hoá). Con trưởng là Lê Tranh nối ngôi, tức Lê Hiến Tông.

NămViệc
1442Sinh ở chùa Huy Văn
1460Lên ngôi, niên hiệu Quang Thuận
1464Minh oan cho Nguyễn Trãi
1470Đổi niên hiệu Hồng Đức
1484Dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu
1490Bản đồ cả nước (bản đồ Hồng Đức)
1494–1495Lập hội Tao Đàn; Quỳnh uyển cửu ca
1497Mất, an táng ở Chiêu Lăng, Lam Kinh

Sử gia đánh giá và góc nhìn hôm nay

Gần như mọi sử gia, từ Ngô Sĩ Liên đến Phan Huy Chú, đều xếp Lê Thánh Tông vào hàng vua giỏi nhất của Đại Việt. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí coi phép tắc thời Hồng Đức là mẫu mực cho đời sau. Nhà nghiên cứu hiện nay thêm vào: ông là người đặt nền cho nhà nước quan liêu kiểu Nho giáo, mạnh nhưng nặng nề, và chính sự cứng nhắc ấy góp phần vào khủng hoảng chỉ mười năm sau khi ông mất.

  • Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội): đi dọc hai dãy bia, tìm những tấm dựng năm 1484.
  • Lam Kinh: Chiêu Lăng và bia Chiêu Lăng.
  • Đọc: các bản tuyển dịch thơ Lê Thánh Tông; Hồng Đức quốc âm thi tập (bản phiên âm, chú giải) để thấy tiếng Việt thế kỷ 15 trông thế nào.

Câu hỏi thường gặp

Lê Thánh Tông trị vì bao lâu?

Ông trị vì 38 năm, từ năm 1460 đến khi mất đầu năm 1497. Ông dùng hai niên hiệu là Quang Thuận (1460–1469) và Hồng Đức (1470–1497).

Hội Tao Đàn được lập năm nào, gồm những ai?

Hội Tao Đàn được lập khoảng năm 1494–1495. Vua Lê Thánh Tông làm Tao Đàn nguyên soái, Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm phó, cùng 28 văn thần được gọi là Tao Đàn nhị thập bát tú.

Hồng Đức quốc âm thi tập có phải của Lê Thánh Tông viết?

Tập thơ Nôm này gắn với vua và các văn thần thời Hồng Đức, nhưng tác giả từng bài vẫn còn tranh cãi. Văn bản hiện có được chép lại muộn nên khó xác định bài nào chắc chắn của vua.

Lê Thánh Tông mất năm nào, mộ ở đâu?

Ông mất tháng giêng năm Đinh Tỵ 1497, thọ 56 tuổi. Lăng của ông là Chiêu Lăng trong khu di tích Lam Kinh, Thanh Hoá.

Vì sao Lê Thánh Tông được coi là vua giỏi?

Ông giữ khoa cử đều đặn, dựng bia tiến sĩ, chỉnh đốn quan chế, luật pháp và để lại nhiều tác phẩm văn chương. Thời Hồng Đức được sử gia nhiều đời coi là đỉnh cao của nhà Lê sơ.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác