Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua Lê, Mạc, Tây Sơn

Mạc Đăng Dung: từ võ quan làng chài đến người lập nhà Mạc năm 1527

Mạc Đăng Dung xuất thân làng chài Cổ Trai, đỗ đô lực sĩ, nắm binh quyền thời Lê suy rồi lên ngôi năm 1527. Nhà Mạc giữ khoa cử đều đặn nhưng bị chê vì việc năm 1540.

Mạc Đăng Dung: từ võ quan làng chài đến người lập nhà Mạc năm 1527

Mạc Đăng Dung (1483–1541) là người lập nhà Mạc năm 1527, xuất thân từ một gia đình làm nghề chài lưới ở làng Cổ Trai, đất Hải Dương xưa (nay thuộc Hải Phòng). Ông đỗ võ, làm quan võ thời Lê, leo lên dần trong những năm triều Lê rối loạn, rồi ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi. Sử thời Lê trung hưng gọi ông là kẻ cướp ngôi; sử gia hiện nay nhìn nhận nhiều chiều hơn, nhất là về việc nhà Mạc giữ khoa cử đều đặn và kinh tế phát triển, dù việc ông chịu thần phục nhà Minh năm 1540 vẫn là điểm bị chê nặng.

Từ làng chài đến đô lực sĩ

Mạc Đăng Dung sinh năm 1483 ở làng Cổ Trai (thuộc vùng Nghi Dương xưa). Sử chép ông là cháu nhiều đời của Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên thời Trần, nhưng đến đời ông thì gia đình nghèo, sống bằng nghề đánh cá. Ông có sức khoẻ hơn người.

Dưới triều Lê Uy Mục, ông thi đỗ đô lực sĩ (một kỳ thi võ) và được sung vào đội túc vệ, tức lính hầu cận trong cung. Đây là bước vào triều đình bằng sức vóc, không phải bằng chữ nghĩa.

Leo lên trong thời loạn

Từ năm 1516, khi Lê Tương Dực bị giết, nhà Lê rơi vào hỗn loạn. Nhiều phe võ tướng đánh nhau, lập rồi phế vua. Các cuộc nổi dậy như của Trần Cảo nổi lên khắp nơi. Trong cảnh ấy, người có quân trong tay và biết chọn phe sẽ đi lên.

Mạc Đăng Dung là người như vậy. Ông được vua Lê Chiêu Tông tin dùng, đánh dẹp các phe đối địch, được phong tước cao dần. Đến khoảng năm 1520 ông đã là người nắm binh quyền lớn nhất triều.

Lê Chiêu Tông sợ thế lực của ông, năm 1522 bỏ kinh thành trốn đi, mưu dựa vào phe khác để chống lại. Mạc Đăng Dung liền lập em của Chiêu Tông là Lê Xuân lên ngôi, tức Lê Cung Hoàng. Chiêu Tông về sau bị bắt và bị giết. Từ đây vua Lê chỉ còn là danh nghĩa.

Năm 1527: lên ngôi

Tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi, lên làm hoàng đế, đặt niên hiệu Minh Đức. Nhà Mạc ra đời. Cung Hoàng và Thái hậu sau đó bị buộc phải chết.

Ông không ngồi lâu trên ngai. Năm 1529 ông nhường ngôi cho con trưởng là Mạc Đăng Doanh (Mạc Thái Tông), lên làm thái thượng hoàng và về sống ở quê Cổ Trai. Ở đó ông cho xây dựng khu Dương Kinh, như một kinh đô thứ hai của nhà Mạc. Lối thượng hoàng giữ quyền phía sau này giống cách nhà Trần từng làm.

NămViệc
1483Sinh ở Cổ Trai
Khoảng 1505–1509Đỗ đô lực sĩ, vào đội túc vệ dưới triều Uy Mục
1516 trở điThời loạn sau cái chết của Tương Dực; ông lên dần nhờ binh quyền
1522Chiêu Tông bỏ kinh; ông lập Lê Cung Hoàng
1527Lên ngôi, niên hiệu Minh Đức, lập nhà Mạc
1529Nhường ngôi cho Mạc Đăng Doanh, làm thái thượng hoàng
1533Nguyễn Kim lập Lê Trang Tông ở vùng Ai Lao, mở đầu Nam – Bắc triều
1540Ra Nam Quan chịu thần phục nhà Minh
1541Mất

Nhà Mạc làm được gì

Khoa cử không đứt

Điều nổi bật nhất của nhà Mạc là giữ khoa cử đều đặn, ngay cả trong lúc chiến tranh với nhà Lê trung hưng. Trong khoảng 65 năm ở Thăng Long, nhà Mạc tổ chức hơn hai mươi khoa thi Hội, lấy hàng trăm tiến sĩ. Nguyễn Bỉnh Khiêm, người được dân gian gọi là Trạng Trình, đỗ trạng nguyên năm 1535 dưới triều Mạc Thái Tông.

Đời sống những năm đầu

Đại Việt sử ký toàn thư, dù được viết dưới triều Lê trung hưng vốn coi nhà Mạc là nguỵ, vẫn chép rằng dưới thời Mạc Thái Tông có những năm được mùa, đời sống yên ổn, trâu bò thả ngoài đồng không phải lùa về, đường đi không có trộm cướp. Việc kẻ thù chính trị còn chép như vậy là một chỉ dấu đáng tin.

Nghệ thuật thời Mạc

Các nhà nghiên cứu mỹ thuật hiện nay coi thế kỷ 16 dưới thời Mạc là thời nở rộ của điêu khắc đình làng và gốm. Gốm có ghi niên đại thời Mạc, đặc biệt các chân đèn, lư hương gốm men của các làng gốm vùng Hải Dương xưa, nay có trong nhiều bảo tàng. Nghệ thuật trang trí thời này mang nhiều hình ảnh đời thường, ít khuôn phép cung đình hơn thời Lê sơ.

Năm 1540: Nam Quan và lời chê

Phần bị chê nặng nhất của đời Mạc Đăng Dung là năm 1540. Nhà Minh không công nhận nhà Mạc, mượn cớ "hỏi tội cướp ngôi" để gây áp lực bằng quân sự ở biên giới. Để tránh chiến tranh, Mạc Đăng Dung cùng một số quan lại đến cửa Nam Quan, làm lễ chịu tội và thần phục, dâng sổ sách và chấp nhận nhường một số động (vùng đất) ở phía biên giới Khâm Châu.

Nhà Minh hạ danh nghĩa nước ta xuống thành "An Nam đô thống sứ ty" và phong Mạc Đăng Dung làm đô thống sứ, thay vì "An Nam quốc vương" như các triều trước. Đây là việc các sử gia thời Lê trung hưng và nhiều sử gia đời sau phê phán gay gắt.

Một số nhà nghiên cứu hiện nay cố hiểu hoàn cảnh: nhà Mạc đang phải đối đầu với nhà Lê trung hưng ở phía nam (từ năm 1533), không thể đánh cùng lúc hai mặt trận; nhượng bộ danh nghĩa với nhà Minh là cách tránh một cuộc chiến lớn. Nhưng dù hiểu hoàn cảnh, việc chịu nhục trước nước ngoài vẫn là điểm mà phần lớn sử gia không biện hộ.

Mất và sau đó

Tháng 8 năm Tân Sửu (1541), Mạc Đăng Dung mất, thọ 59 tuổi. Mạc Thái Tông đã mất trước đó một năm (1540), nên ngai vàng lúc này thuộc về cháu nội ông là Mạc Phúc Hải.

Nhà Mạc giữ được Thăng Long đến năm 1592, khi quân Lê – Trịnh chiếm lại kinh thành. Sau đó con cháu họ Mạc lên giữ vùng Cao Bằng, được nhà Minh rồi nhà Thanh che chở, tồn tại đến năm 1677. Tính cả giai đoạn Cao Bằng, họ Mạc tồn tại 150 năm.

Sử gia đánh giá: từ "nguỵ Mạc" đến cái nhìn nhiều chiều

Các bộ sử thời Lê trung hưng và nhà Nguyễn gọi nhà Mạc là "nguỵ Mạc" (triều nguỵ), không chép như một triều chính thống. Cách nhìn này có lý do chính trị: nhà Lê trung hưng cần khẳng định mình mới là chính thống.

Từ thế kỷ 20, các nhà sử học Việt Nam bắt đầu đánh giá lại. Ý kiến phổ biến hiện nay:

  • Việc cướp ngôi nhà Lê là sự thay triều đại, không khác về bản chất so với nhà Trần thay nhà Lý hay nhà Lê thay nhà Hồ.
  • Nhà Mạc có đóng góp về kinh tế, khoa cử, văn hoá, nghệ thuật.
  • Việc thần phục nhà Minh năm 1540 là vết nhục khó biện hộ, dù có hoàn cảnh.
  • Thời Mạc mở đầu gần 70 năm Nam – Bắc triều, chiến tranh kéo dài làm dân khổ; trách nhiệm chia cho cả hai phía.

Góc nhìn hôm nay

  • Cổ Trai (Hải Phòng): có khu đền thờ các vua Mạc, nằm trên đất Dương Kinh xưa.
  • Bảo tàng: tìm gốm men có niên đại thời Mạc ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội).
  • Đình làng thế kỷ 16: nhiều đình ở đồng bằng Bắc Bộ còn mảng chạm khắc phong cách thời Mạc, rất sinh động.
  • Đọc: các công trình nghiên cứu về nhà Mạc xuất bản từ thập niên 1990 trở lại đây, để đối chiếu với cách chép của Toàn thư.

Câu hỏi thường gặp

Mạc Đăng Dung là ai?

Mạc Đăng Dung (1483–1541) là người lập nhà Mạc năm 1527. Ông xuất thân làng chài Cổ Trai, đỗ võ, làm quan võ thời Lê rồi nắm binh quyền và ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi.

Nhà Mạc tồn tại bao lâu?

Nhà Mạc giữ Thăng Long từ 1527 đến 1592, khoảng 65 năm. Sau đó con cháu họ Mạc giữ vùng Cao Bằng đến năm 1677.

Vì sao Mạc Đăng Dung bị chê?

Ông bị chê vì cướp ngôi nhà Lê và nhất là việc năm 1540 ra Nam Quan chịu thần phục nhà Minh, chấp nhận danh nghĩa đô thống sứ và nhường một số vùng đất biên giới. Sử thời Lê trung hưng còn gọi nhà Mạc là nguỵ.

Nhà Mạc có đóng góp gì?

Nhà Mạc giữ khoa cử đều đặn với hơn hai mươi khoa thi Hội, có những năm đời sống yên ổn, và nghệ thuật điêu khắc, gốm phát triển. Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ trạng nguyên năm 1535 dưới triều Mạc.

Mạc Đăng Dung có phải con cháu Mạc Đĩnh Chi không?

Sử chép ông là cháu nhiều đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Đây là ghi chép truyền thống về gia phả; không có tài liệu độc lập để kiểm chứng thêm.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác