Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế cuối năm 1788 ở Phú Xuân, lấy niên hiệu Quang Trung, và mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16/9/1792), khi mới khoảng 40 tuổi. Bốn năm trên ngai, phần lớn thời gian ông không đánh trận mà lo dựng nước: khuyến nông, mở trường, đề cao chữ Nôm, mời người tài, đặt lại quan hệ với nhà Thanh. Nhiều việc mới bắt đầu thì ông mất, để lại một triều đình non trẻ cho người con mười tuổi.
Từ tướng Tây Sơn đến hoàng đế
Nguyễn Huệ sinh năm 1753 ở ấp Kiên Mỹ, đất Tây Sơn (vùng Bình Định cũ). Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dấy binh. Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng hoàng đế, niên hiệu Thái Đức, đóng đô ở Quy Nhơn. Nguyễn Huệ khi ấy là tướng giỏi nhất của anh.
Năm 1786, sau khi ra Bắc dẹp chúa Trịnh và được vua Lê Hiển Tông gả công chúa Lê Ngọc Hân, Nguyễn Huệ về Nam. Ba anh em chia đất: Nguyễn Nhạc làm Trung ương hoàng đế ở Quy Nhơn, Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương giữ từ Quảng Nam trở ra, đóng ở Phú Xuân (Huế), Nguyễn Lữ làm Đông Định vương ở Gia Định. Không lâu sau, Nhạc và Huệ xung đột với nhau, rồi phải giảng hoà.
Cuối năm 1788, khi được tin vua Lê Chiêu Thống dẫn quân Thanh vào Thăng Long, Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi hoàng đế ở núi Bân (Phú Xuân), đặt niên hiệu Quang Trung, rồi kéo quân ra Bắc. Đầu xuân Kỷ Dậu 1789 quân Thanh thua chạy. Đó là phần quân sự nổi tiếng nhất của đời ông; bài này nói về những gì đến sau.
Ngai vàng ở Phú Xuân, tầm nhìn ra Bắc
Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân, nơi ông đã cai quản từ năm 1786. Thăng Long trở thành Bắc thành, giao cho các tướng và quan văn trông coi. Ông có ý định dựng một kinh đô mới ở Nghệ An, gọi là Phượng Hoàng Trung Đô, để ở giữa đất nước; việc xây dựng mới bắt đầu thì ông mất.
Điểm đáng chú ý trong cách dùng người của ông là mời được nhiều nho sĩ Bắc Hà vốn trung thành với nhà Lê. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp (La Sơn phu tử) là những tên tuổi lớn đã ra giúp triều Tây Sơn. Lời Chiếu cầu hiền do Ngô Thì Nhậm thảo, nhân danh vua, kêu gọi những người tài đang ở ẩn ra giúp nước, đến nay vẫn được học trong nhà trường.
Bốn năm: những việc chính
Đưa dân về ruộng
Sau mấy chục năm chiến tranh, ruộng bỏ hoang rất nhiều. Quang Trung ban chiếu khuyến nông, buộc dân phiêu tán về quê, làng nào để ruộng hoang thì bị phạt. Sử chép mấy năm sau đó mùa màng khá lên. Đây là việc mà triều đại nào sau chiến tranh cũng phải làm; điều khác ở ông là làm gấp và cứng rắn.
Trường học và chữ Nôm
Ông xuống chiếu lập học, khuyến khích mở trường ở các xã. Năm 1791 ông lập Sùng Chính viện, giao Nguyễn Thiếp đứng đầu, để dịch sách kinh điển chữ Hán ra chữ Nôm. Một số văn bản hành chính, thi cử thời Tây Sơn cũng dùng chữ Nôm. Đây là lần hiếm hoi trong lịch sử phong kiến Việt Nam, chữ viết của tiếng Việt được nhà nước đề cao chính thức đến vậy, dù thời gian quá ngắn để thành nếp.
Quản lý dân
Triều đình làm lại sổ hộ tịch, và theo một số nguồn, phát cho dân thẻ gọi là "tín bài" để kiểm soát số người. Mục đích là nắm số người để thu thuế và bắt lính. Việc này giúp nhà nước mạnh lên, nhưng cũng làm dân sợ và có nơi oán thán.
Tiền tệ và buôn bán
Ông cho đúc tiền "Quang Trung thông bảo" và mong mở cửa buôn bán với nhà Thanh qua biên giới. Việc giao thương được nối lại sau khi quan hệ hai bên hoà dịu.
Quan hệ với nhà Thanh
Sau chiến thắng năm 1789, Quang Trung không muốn chiến tranh kéo dài với một đế quốc lớn. Ông nhanh chóng sai sứ sang giảng hoà, và nhà Thanh dưới thời Càn Long đồng ý phong ông làm An Nam quốc vương.
Năm 1790 có một phái đoàn sang Nhiệt Hà mừng thọ Càn Long tám mươi tuổi, người đứng đầu xưng là vua Quang Trung. Nhiều nguồn Việt Nam đời sau chép rằng người đi thật ra là một người đóng thế, thường được nêu tên là Phạm Công Trị, còn vua thật vẫn ở Phú Xuân. Đây là điểm còn tranh cãi: các tư liệu phía nhà Thanh tả "An Nam quốc vương" được tiếp đón trọng thể, và các nhà nghiên cứu chưa thống nhất có hay không việc đóng thế.
Cái chết đột ngột năm 1792
Mùa hè năm 1792, Quang Trung lâm bệnh rồi mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792). Sử không chép rõ bệnh gì. Ông chưa đến 40 tuổi theo tuổi tây.
Con trai Nguyễn Quang Toản, khoảng mười tuổi, lên ngôi, niên hiệu Cảnh Thịnh. Triều đình nhanh chóng chia bè phái, các tướng giỏi bị nghi kỵ. Mười năm sau, năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh chiếm Phú Xuân rồi Thăng Long, nhà Tây Sơn chấm dứt. Nơi an táng của Quang Trung đến nay vẫn chưa được xác định chắc chắn.
Hoàng hậu Lê Ngọc Hân viết Ai tư vãn, bài văn Nôm khóc chồng, được coi là một trong những tác phẩm văn học hay nhất của phụ nữ thời trung đại.
Những việc dang dở
| Việc | Đã làm | Còn dang dở |
|---|---|---|
| Kinh đô | Đóng đô Phú Xuân, quản lý Bắc thành | Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An mới khởi công |
| Giáo dục | Chiếu lập học, Sùng Chính viện | Dịch sách sang chữ Nôm chưa xong |
| Kinh tế | Chiếu khuyến nông, đúc tiền | Buôn bán với nhà Thanh mới khôi phục |
| Thống nhất | Làm chủ từ Quảng Nam trở ra Bắc | Gia Định vẫn trong tay Nguyễn Phúc Ánh; quan hệ với Nguyễn Nhạc căng thẳng |
| Kế vị | Lập Quang Toản làm thái tử | Người kế vị quá nhỏ, triều đình chia rẽ |
Đánh giá Quang Trung trên ngai vàng
Sử nhà Nguyễn, vì là đối thủ của Tây Sơn, gọi triều Tây Sơn là "nguỵ" và chép ít, chép xấu. Từ thế kỷ 20, Quang Trung được các nhà sử học Việt Nam đánh giá rất cao, chủ yếu ở tài quân sự và tinh thần dân tộc.
Về vai trò làm vua, nhìn tỉnh táo hơn, có ba điều đáng nói. Thứ nhất, ông có tầm nhìn rõ: khôi phục sản xuất, đề cao chữ Nôm, dùng người tài không kể xuất thân. Thứ hai, nhiều chính sách được thực hiện cứng rắn, làm dân vừa được lợi vừa chịu nặng. Thứ ba, bốn năm là quá ngắn; ta chỉ thấy được ý định, chưa thấy được kết quả lâu dài. Sự sụp đổ nhanh của Tây Sơn sau khi ông mất cho thấy triều đại phụ thuộc rất nhiều vào một con người.
Góc nhìn hôm nay
- Bảo tàng Quang Trung ở Phú Phong, đất Tây Sơn (Bình Định cũ): có khu đền thờ ba anh em Tây Sơn và nền nhà cũ.
- Núi Dũng Quyết (Vinh, Nghệ An): nơi gắn với dự định Phượng Hoàng Trung Đô, có đền thờ Quang Trung.
- Gò Đống Đa (Hà Nội): tượng đài Quang Trung, lễ hội đầu xuân mùng 5 Tết.
- Đọc: Chiếu cầu hiền; Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân; Hoàng Lê nhất thống chí (nhớ đây là tiểu thuyết lịch sử).
Câu hỏi thường gặp
Quang Trung lên ngôi năm nào?
Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế cuối năm 1788 tại núi Bân, Phú Xuân, lấy niên hiệu Quang Trung. Ngay sau đó ông kéo quân ra Bắc và đánh tan quân Thanh vào đầu xuân 1789.
Vua Quang Trung trị vì bao lâu?
Khoảng bốn năm, từ cuối 1788 đến khi mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý, tức 16/9/1792. Con ông là Nguyễn Quang Toản nối ngôi với niên hiệu Cảnh Thịnh.
Quang Trung có sang Trung Quốc mừng thọ Càn Long không?
Năm 1790 có phái đoàn mang danh vua Quang Trung sang mừng thọ Càn Long. Nhiều nguồn Việt Nam cho rằng người đi là người đóng thế, thường nêu tên Phạm Công Trị; vấn đề này đến nay vẫn còn tranh cãi.
Quang Trung đã làm gì sau khi lên ngôi?
Ông ban chiếu khuyến nông, chiếu lập học, lập Sùng Chính viện dịch sách ra chữ Nôm, mời nho sĩ Bắc Hà ra giúp, đúc tiền mới và giảng hoà với nhà Thanh. Nhiều việc còn dang dở khi ông mất.
Vua Quang Trung mất vì sao?
Sử chỉ chép ông lâm bệnh rồi mất năm 1792, không nói rõ bệnh gì. Các giả thuyết về nguyên nhân cụ thể đều chưa có bằng chứng chắc chắn.