Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua trong văn hoá & di tích

Thơ văn của các vua Việt: từ thời Lý đến vua Tự Đức

Nhiều vua Việt để lại thơ văn thật: kệ Thiền thời Lý, Khoá hư lục của Trần Thái Tông, thơ Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông và thơ ngự chế của Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.

Thơ văn của các vua Việt: từ thời Lý đến vua Tự Đức

Nhiều vua Việt để lại thơ văn thật, không chỉ chiếu chỉ do quan soạn. Thời Lý có những bài kệ, bài tán mang màu Thiền như bài Lý Nhân Tông truy tán sư Vạn Hạnh; thời Trần có Khoá hư lục của Trần Thái Tông và những bài thơ cảnh của Trần Nhân Tông như "Thiên Trường vãn vọng"; thời Lê sơ có Lê Thánh Tông với thơ chữ Hán, chữ Nôm; thời Nguyễn có Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức với hàng nghìn bài thơ ngự chế. Đọc thơ vua là cách gần nhất để nghe giọng của chính người ngồi trên ngai, dù vẫn phải phân biệt bài nào vua tự viết, bài nào do quan soạn thay.

Ngự chế hay soạn hộ: câu hỏi đầu tiên khi đọc văn vua

"Ngự chế" nghĩa là do vua làm. Nhưng không phải văn bản nào mang danh vua cũng do vua viết. Chiếu, cáo, sắc thường do các quan giỏi chữ soạn, vua duyệt rồi ban ra. Ví dụ quen thuộc: Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn thay lời Lê Thái Tổ; "Chiếu cầu hiền" thời Quang Trung do Ngô Thì Nhậm thảo. Còn thơ, nhất là thơ cảm xúc riêng, thì phần nhiều do chính vua viết, dù có khi được quan sửa chữ.

Vì vậy bài này tập trung vào thơ văn được sử và giới nghiên cứu thừa nhận là của chính các vua, và nói rõ chỗ nào còn tranh luận về tác giả.

Thời Lý: thơ của những ông vua học Thiền

Văn học thời Lý gắn chặt với Phật giáo. Phần lớn thơ văn còn lại được chép trong Thiền uyển tập anh và các bộ sử.

  • Lý Thái Tông được Thiền uyển tập anh ghi lại một bài kệ hỏi đạo các thiền sư, cho thấy nhà vua thực sự tham gia vào đời sống Thiền học chứ không chỉ bảo trợ chùa chiền.
  • Lý Thánh Tông được sách này xếp vào thế hệ đầu của dòng Thiền Thảo Đường, mang tên nhà sư Thảo Đường mà vua đưa về kinh. Thơ văn của chính ông còn lại rất ít.
  • Lý Nhân Tông có bài tán truy niệm sư Vạn Hạnh, bốn câu năm chữ mở đầu bằng "Vạn Hạnh dung tam tế, Chân phù cổ sấm thi", ý nói sư Vạn Hạnh thông suốt ba thời, đúng như lời sấm xưa. Toàn thư còn chép di chiếu của ông năm 1127, trong đó nhà vua nói về lẽ sống chết như một quy luật tự nhiên và dặn bớt tang lễ cho dân đỡ khổ; đây là một trong những văn bản cảm động nhất của văn học thời Lý.

Điểm đặc biệt: thơ vua Lý ít nói chuyện cai trị, nhiều nói chuyện đạo, chuyện thầy trò. Nó phản ánh một thời mà nhà sư có vị trí rất gần ngai vàng.

Thời Trần: những ông vua vừa cầm quân vừa làm thơ

Trần Thái Tông và Khoá hư lục

Khoá hư lục là tác phẩm văn xuôi xen thơ của Trần Thái Tông, bàn về sinh – lão – bệnh – tử, về giới luật và thiền định. Ông còn viết bài tựa cho sách Thiền tông chỉ nam, kể lại việc mình từng bỏ cung lên núi tìm thầy (khoảng năm 1237) và được khuyên trở về gánh việc nước. Đây là những trang văn hiếm hoi trong đó một vị vua Việt tự kể về khủng hoảng tinh thần của chính mình.

Trần Nhân Tông: thơ cảnh và phú Nôm

Trần Nhân Tông là vua Trần để lại nhiều thơ hay nhất. Bài "Thiên Trường vãn vọng" (Ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường) mở đầu bằng hai câu "Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên", tả xóm làng mờ như khói trong ánh chiều, nửa như có nửa như không. Ông còn có bài phú chữ Nôm "Cư trần lạc đạo phú" (Ở cõi trần vui với đạo), một trong những tác phẩm Nôm sớm nhất còn lại. Phần đời tu hành của ông là một câu chuyện khác; ở đây chỉ cần thấy ông là một nhà thơ thực thụ.

Các vua Trần khác

Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Nghệ Tông đều còn lưu lại một số bài thơ chữ Hán, phần lớn là thơ cảnh, thơ tặng, thơ vịnh nơi chốn, trong đó Trần Minh Tông có bài viết khi đi qua sông Bạch Đằng. Các bài này được tập hợp trong bộ Thơ văn Lý – Trần do Viện Văn học biên soạn.

Thời Lê sơ: Lê Thánh Tông và thơ có tổ chức

Lê Thánh Tông là vị vua Việt làm thơ nhiều nhất trước nhà Nguyễn, với các tập thơ chữ Hán và phần thơ chữ Nôm trong Hồng Đức quốc âm thi tập. Câu chuyện của ông với hội Tao Đàn đã có ở bài riêng; điều đáng nói ở đây là sự đổi khác: thơ vua không còn là kệ Thiền mà là thơ Nho giáo, ca ngợi đạo vua tôi, cảnh thái bình, và đi kèm với việc vua tổ chức văn chương như một thiết chế của triều đình. Nhiều bài trong Hồng Đức quốc âm thi tập được cho là của các văn thần Tao Đàn, nên khi trích cần ghi rõ "thường được gán cho Lê Thánh Tông".

Trước đó, Lam Sơn thực lục có bài tựa ký tên Lê Thái Tổ năm 1431, nhưng giới nghiên cứu đều cho rằng phần văn chủ yếu do Nguyễn Trãi viết.

Thời Nguyễn: ba ông vua thi sĩ

VuaTác phẩm tiêu biểuĐặc điểm
Minh Mạng (Minh Mệnh)Các tập Ngự chế thi; Mười điều huấn dụ (1834)Thơ ghi việc, ghi chuyến đi; văn huấn dụ đạo đức cho dân
Thiệu TrịNgự chế thi; thơ đề hai mươi cảnh đẹp đất kinh đô; thơ hồi vănƯa lối chơi chữ cầu kỳ, thơ đọc xuôi đọc ngược đều thành bài
Tự ĐứcNgự chế Việt sử tổng vịnh; Luận ngữ diễn ca; Tự học giải nghĩa ca; bài văn bia ở Khiêm LăngHọc giả, vịnh sử, diễn Nôm kinh sách; thơ Nôm giàu cảm xúc

Minh Mạng làm thơ đều đặn như một việc của người cầm quyền: ghi lại chuyến đi tuần, lễ tế, mùa màng. Mười điều huấn dụ của ông về sau được diễn ra thơ Nôm để đọc ở các làng.

Thiệu Trị nổi tiếng với bộ thơ đề hai mươi cảnh đẹp của đất Thần Kinh, như chùa Thiên Mụ, núi Ngự Bình, và với lối thơ hồi văn, đọc theo nhiều hướng vẫn thành bài. Nhiều bài thơ của ông được khắc, viết trên các công trình trong kinh thành.

Tự Đức là vua học giả nhất nhà Nguyễn. Bộ Việt sử tổng vịnh gồm nhiều bài thơ vịnh nhân vật, sự kiện sử Việt, mỗi bài có lời bình. Ông diễn Nôm Luận ngữ, soạn sách dạy chữ bằng văn vần. Tấm bia lớn ở lăng của ông khắc bài văn chính ông viết về cuộc đời, bệnh tật và những lỗi lầm của mình. Bài thơ Nôm khóc bà Bằng phi, với những câu như "Đập cổ kính ra tìm lấy bóng", được truyền tụng rộng rãi và thường được gán cho Tự Đức.

Bên cạnh ba ông vua, nhà Nguyễn còn có các hoàng thân thi sĩ như Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, nổi tiếng ngang giới văn nhân.

Thơ trên kiến trúc cung đình Huế

Một nét riêng của nhà Nguyễn là thơ không chỉ in trong sách mà khảm, chạm, viết trực tiếp lên kiến trúc: ô hộc trên vách điện, câu đối trên cột, bài vịnh trên bình phong. Nhiều bài là thơ ngự chế của các vua. Năm 2016, hệ thống "thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế" được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ai đến Đại Nội Huế, nhìn kỹ các ô vuông trang trí trên vách điện sẽ thấy mỗi ô thường đi đôi với một bức hoạ và một bài thơ.

Thơ vua nói gì về các vị vua

Đặt cạnh nhau, thơ vua Việt cho thấy một con đường: từ thơ Thiền thời Lý, qua thơ của những ông vua vừa đánh giặc vừa tu đạo thời Trần, đến thơ Nho giáo thời Lê sơ, và thơ học giả thời Nguyễn. Mỗi giai đoạn phản ánh tư tưởng chính của triều đình. Nhưng ở mỗi giai đoạn cũng có những câu rất riêng: một chiều tà ở Thiên Trường, một di chiếu dặn bớt tang lễ cho dân, một bài văn bia tự nhận lỗi.

Cũng nên nhớ hạn chế: thơ vua được lưu giữ nhiều vì là thơ vua, không phải vì nó hay hơn thơ người khác. Đánh giá văn chương phải tách khỏi địa vị tác giả.

Góc nhìn hôm nay: đọc ở đâu

  • Bộ Thơ văn Lý – Trần (Viện Văn học, ba tập) cho phần thơ văn các vua Lý – Trần, có nguyên văn, phiên âm và dịch nghĩa.
  • Thiền uyển tập anh cho thơ kệ thời Lý.
  • Các tuyển tập thơ Lê Thánh Tông và Hồng Đức quốc âm thi tập.
  • Các bản dịch thơ ngự chế nhà Nguyễn do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và các nhà nghiên cứu ở Huế giới thiệu.

Đi thực địa: Đại Nội Huế với thơ trên vách điện; lăng Tự Đức với tấm bia lớn; vùng Thiên Trường (Nam Định cũ, nay thuộc Ninh Bình), nơi Trần Nhân Tông viết bài thơ chiều quê nổi tiếng.

Câu hỏi thường gặp

Vua Việt nào làm thơ nhiều nhất?

Các vua nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức để lại số lượng thơ ngự chế lớn nhất, lên tới hàng nghìn bài. Trước nhà Nguyễn, Lê Thánh Tông là vị vua làm thơ nhiều và nổi tiếng nhất.

Khoá hư lục là của ai?

Khoá hư lục là tác phẩm của Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên nhà Trần. Sách bàn về sinh, lão, bệnh, tử, giới luật và thiền định, viết bằng văn xuôi xen thơ.

Bài thơ Thiên Trường vãn vọng của ai?

Của vua Trần Nhân Tông. Bài thơ tả cảnh chiều ở vùng Thiên Trường, quê hương nhà Trần, mở đầu bằng câu "Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên".

Bình Ngô đại cáo có phải do Lê Lợi viết không?

Không. Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn thay lời Lê Thái Tổ năm 1428. Đây là ví dụ điển hình cho thấy nhiều văn bản mang danh vua thật ra do văn thần soạn.

Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là gì?

Là hệ thống thơ, câu đối khắc, khảm, viết trên các công trình cung đình nhà Nguyễn ở Huế, nhiều bài là thơ của các vua. Năm 2016, hệ thống này được UNESCO ghi danh là di sản tư liệu Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác