Hoàng ThượngWiki
Tìm
Hoàng đế Trung Hoa

Tống Huy Tông: hoàng đế nghệ sĩ, chữ Sấu kim và biến Tĩnh Khang

Tống Huy Tông (1082–1135) tạo lối chữ Sấu kim, vẽ Thuỵ hạc đồ, lập viện hoạ, nhưng tin dùng Thái Kinh, liên minh với Kim và để mất kinh đô trong biến Tĩnh Khang năm 1127.

Tống Huy Tông: hoàng đế nghệ sĩ, chữ Sấu kim và biến Tĩnh Khang

Tống Huy Tông (1082–1135), tên Triệu Cát, là hoàng đế thứ tám nhà Bắc Tống, trị vì 1100–1126. Ông là một trong những nghệ sĩ tài hoa nhất từng ngồi trên ngai vàng: sáng tạo lối chữ "Sấu kim" (vàng gầy), vẽ tranh hoa điểu tinh tế, lập viện hoạ, sưu tầm cổ vật quy mô chưa từng có. Nhưng trong tay ông, triều chính rơi vào bọn quyền thần, ngân khố hao vào vườn đá, và quyết định liên minh với nước Kim đánh Liêu đã kéo theo thảm hoạ Tĩnh Khang năm 1127: kinh đô thất thủ, chính ông và con trai bị bắt sang phương Bắc, chết ở đó.

Một vương tử không được chuẩn bị làm vua

Triệu Cát là con thứ mười một của Tống Thần Tông, em của Tống Triết Tông, được phong Đoan vương. Thuở nhỏ ông mê thư hoạ, nuôi chim, chơi đá, đá cầu, không ai nghĩ sẽ làm vua. Năm 1100, Triết Tông mất khi chưa đầy 24 tuổi, không có con nối dõi. Hướng thái hậu (vợ Thần Tông) chọn Đoan vương.

Tống sử chép tể tướng Chương Đôn khi ấy phản đối, nói Đoan vương "khinh bạc, không thể làm vua thiên hạ". Câu này về sau được trích dẫn như một lời tiên tri, nhưng cần nhớ nó được ghi lại sau khi mọi chuyện đã xảy ra, nên có thể đã được tô đậm.

Chữ Sấu kim và viện hoạ

Về nghệ thuật, Huy Tông xứng đáng với tiếng tăm. Lối chữ ông sáng tạo, gọi là "Sấu kim thể", có nét mảnh, sắc, đầu và cuối nét nhấn rõ như đốt trúc, các nét ngang dọc vươn dài. Người đời sau ví nó như cành lan, lá trúc. Đây là một trong số rất ít lối chữ trong thư pháp Trung Hoa gắn với tên một hoàng đế, và đến nay nó còn là nguồn cảm hứng cho cả kiểu chữ in hiện đại.

Ông vẽ tranh hoa điểu theo lối "công bút" tỉ mỉ, nổi tiếng với bức Thuỵ hạc đồ (1112) vẽ đàn hạc bay trên mái cổng cung điện, nay ở Bảo tàng tỉnh Liêu Ninh. Giới nghiên cứu cho rằng nhiều tranh mang chữ ký ông thực ra do hoạ sĩ trong viện vẽ, ông đề thơ và ký. Chữ ký của ông là một ký hiệu cách điệu thường được đọc là "Thiên hạ nhất nhân" (người duy nhất trong thiên hạ).

Ông đưa hội hoạ vào hệ thống học đường: lập "Hoạ học" trong Quốc tử giám, ra đề thi bằng câu thơ để hoạ sĩ vẽ ý. Ông cho biên soạn Tuyên Hoà hoạ phổ và Tuyên Hoà thư phổ, danh mục hàng nghìn tác phẩm trong kho cung đình, cùng Tuyên Hoà bác cổ đồ ghi chép đồ đồng cổ. Đây là những tài liệu vẫn được giới nghiên cứu mỹ thuật dùng đến hôm nay.

Triều chính trong tay ai

Mặt trị nước thì ngược lại. Huy Tông giao quyền cho tể tướng Thái Kinh, người bốn lần làm tể tướng, cùng hoạn quan Đồng Quán và một nhóm thân tín. Năm 1125–1126, thái học sinh Trần Đông dâng thư gọi họ là "lục tặc" (sáu tên giặc): Thái Kinh, Vương Phủ, Đồng Quán, Lương Sư Thành, Chu Miễn, Lý Ngạn.

Những việc tốn kém nhất:

  • Hoa thạch cương: chở đá lạ, cây quý từ vùng Giang Nam về kinh đô Biện Kinh (Khai Phong) bằng đoàn thuyền. Chu Miễn trông coi việc này, dân vùng Tô Châu, Hàng Châu khổ sở.
  • Vườn Cấn Nhạc: một ngọn núi nhân tạo với đá Thái Hồ, hoàn thành năm 1122 ở góc đông bắc kinh thành. Khi quân Kim vây thành, chính đá ở đây bị đập làm đạn bắn.
  • Đạo giáo cung đình: ông tự xưng "Giáo chủ Đạo quân hoàng đế", dựng nhiều đạo quán, trọng dụng đạo sĩ Lâm Linh Tố.

Năm 1120, Phương Lạp khởi nghĩa ở Mục Châu (Chiết Giang), một phần vì nỗi khổ hoa thạch cương; quân triều đình phải mất hơn một năm mới dẹp được. Thời này cũng có nhóm của Tống Giang hoạt động vùng Hà Bắc, Sơn Đông. Tống Giang là nhân vật có thật, nhưng sử chép về ông rất ít; 108 hảo hán Lương Sơn là sáng tác của tiểu thuyết Thuỷ hử nhiều thế kỷ sau.

Liên minh trên biển và biến Tĩnh Khang

Từ thế kỷ 10, nhà Tống mất vùng Yên Vân (quanh Bắc Kinh ngày nay) vào tay nước Liêu của người Khiết Đan. Khi người Nữ Chân ở đông bắc nổi dậy, lập nước Kim năm 1115 và đánh Liêu liên tiếp, triều Tống thấy cơ hội. Năm 1120, hai bên giao ước qua đường biển, nên sử gọi là "hải thượng chi minh": cùng đánh Liêu, Tống lấy lại đất Yên Vân, đem số tiền lụa trước nộp Liêu chuyển sang nộp Kim.

Quân Tống đánh Liêu nhiều lần không thắng. Kim tự chiếm hết, rồi chỉ trả cho Tống mấy châu đã bị vét sạch người của, đổi lấy tiền chuộc lớn. Năm 1125, nước Liêu mất. Kim thấy rõ sự yếu kém của Tống, và chỉ vài tháng sau đã kéo quân xuống phía nam.

Tháng chạp năm Tuyên Hoà thứ 7 (đầu năm 1126 dương lịch), trước tin quân Kim áp sát, Huy Tông hoảng sợ, nhường ngôi cho thái tử Triệu Hoàn (Tống Khâm Tông), tự làm thái thượng hoàng rồi rời kinh xuống phía nam. Cuối năm Tĩnh Khang thứ nhất (tháng 1/1127 dương lịch), Biện Kinh thất thủ. Mùa xuân năm 1127 (Tĩnh Khang thứ 2), quân Kim bắt cả hai vua, hậu phi, hoàng tộc, quan lại, thợ thủ công cùng thư tịch, đồ quý trong cung đưa lên phương Bắc. Sử gọi là "Tĩnh Khang chi biến" hay "nỗi nhục Tĩnh Khang". Bắc Tống chấm dứt; con thứ chín của Huy Tông là Triệu Cấu chạy thoát, lập nhà Nam Tống.

Những năm cuối ở phương Bắc

Nhà Kim phong cho Huy Tông tước hiệu có ý sỉ nhục là "Hôn Đức công" (ông vua mờ đức), Khâm Tông là "Trùng Hôn hầu". Hai cha con bị chuyển qua nhiều nơi, cuối cùng đến Ngũ Quốc thành, gần Y Lan, tỉnh Hắc Long Giang ngày nay. Huy Tông mất ở đó năm 1135, khoảng 53 tuổi. Chuyện "ngồi đáy giếng nhìn trời" mà người ta hay kể ở Y Lan là truyền thuyết dân gian, không có trong chính sử.

Năm 1142, theo hoà ước giữa Nam Tống và Kim, thi hài ông được đưa về, táng ở Vĩnh Hựu lăng, vùng Thiệu Hưng, Chiết Giang. Miếu hiệu "Huy Tông" do Nam Tống truy tôn.

Đánh giá: tài hoa đặt sai chỗ

Phần tán (lời bình) trong Tống sử viết rằng Huy Tông mất nước không phải vì ngu như Tấn Huệ Đế, bạo như Tôn Hạo, cũng không vì bị quyền thần cướp ngôi, mà vì cậy chút khôn vặt riêng, dùng tâm lệch một bên, xa người ngay thẳng, gần kẻ xu nịnh. Đời sau tóm gọn bằng câu hay được truyền: "việc gì cũng giỏi, chỉ không giỏi làm vua".

Các nhà nghiên cứu hiện đại bổ sung vài điều. Một là sự sụp đổ của Bắc Tống có nhiều nguyên nhân sâu hơn một người: quân đội đông mà yếu, tài chính phình to, các cuộc đảng tranh Tân pháp – Cựu pháp kéo dài từ thời Thần Tông. Hai là chính Huy Tông có làm một số việc tích cực như lập trường học, nhà thuốc, viện dưỡng lão, nghĩa trang cho người nghèo, dù việc thực hiện bị quan lại lợi dụng. Dẫu vậy, quyết định chiến lược liên Kim diệt Liêu, rồi bỏ kinh thành lúc nguy, là trách nhiệm trực tiếp của ông.

Câu chuyện của Huy Tông cũng là câu chuyện của văn hoá Tống. Thời ông, thư hoạ, gốm sứ, sưu tầm đạt tới đỉnh tinh tế; bức Thanh minh thượng hà đồ của Trương Trạch Đoan, vẽ cảnh phồn hoa Biện Kinh, thường được cho là ra đời quanh thời gian này. Chỉ vài năm sau, chính thành phố ấy bị cướp phá.

Góc nhìn hôm nay

  • Xem gì: Thuỵ hạc đồ ở Bảo tàng Liêu Ninh (Thẩm Dương); nhiều bản thư pháp Sấu kim và tranh như Văn hội đồ ở Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc và Cố Cung Bắc Kinh; các tranh được gán cho ông ở nhiều bảo tàng phương Tây.
  • Đến đâu: Khai Phong (Hà Nam) với các công trình mô phỏng Biện Kinh thời Tống; vùng Y Lan (Hắc Long Giang) có di chỉ Ngũ Quốc thành.
  • Đọc gì: Tống sử phần Huy Tông bản kỷ; với người mê hội hoạ, đọc về Tuyên Hoà hoạ phổ để thấy cách một hoàng đế xây bộ sưu tập quốc gia.
  • Bài học hay được nhắc: tài năng cá nhân, dù lớn đến đâu, không thay được việc chọn người và đọc đúng thời thế khi đã ngồi ở vị trí phải gánh cả một đất nước.

Câu hỏi thường gặp

Tống Huy Tông là ai?

Tống Huy Tông tên Triệu Cát (1082–1135), hoàng đế thứ tám nhà Bắc Tống, trị vì 1100–1126. Ông nổi tiếng là nhà thư pháp, hoạ sĩ tài hoa nhưng là vị vua để mất nửa nước vào tay quân Kim.

Chữ Sấu kim là gì?

Sấu kim thể (chữ vàng gầy) là lối chữ do Tống Huy Tông sáng tạo, nét mảnh, sắc, đầu cuối nét nhấn rõ như đốt trúc. Đây là một trong số ít lối thư pháp gắn với tên một hoàng đế.

Biến Tĩnh Khang là gì?

Đó là việc quân Kim chiếm kinh đô Biện Kinh và đầu năm 1127 bắt Tống Huy Tông, Tống Khâm Tông cùng hoàng tộc đưa lên phương Bắc. Sự kiện này chấm dứt nhà Bắc Tống.

Tống Huy Tông chết ở đâu?

Ông mất năm 1135 ở Ngũ Quốc thành, gần Y Lan thuộc tỉnh Hắc Long Giang ngày nay, khi đang bị nhà Kim giam giữ. Năm 1142 thi hài được đưa về táng ở Thiệu Hưng.

Tống Huy Tông có liên quan gì tới Thuỷ hử?

Tiểu thuyết Thuỷ hử lấy bối cảnh thời Huy Tông, với các nhân vật như Thái Kinh, Cao Cầu có thật. Tống Giang cũng có thật nhưng sử chép rất ít; 108 hảo hán là hư cấu.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác