Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua Trần & Hồ

Trần Anh Tông: vua nghiêm phép nước giữa thời thái bình nhà Trần

Trần Anh Tông (1293–1314) trị nước thời thái bình sau chiến tranh với Nguyên, biết sửa lỗi say rượu, dùng người tài bình dân, thu hai châu Ô, Lý qua hôn nhân Huyền Trân.

Trần Anh Tông: vua nghiêm phép nước giữa thời thái bình nhà Trần

Trần Anh Tông tên thật là Trần Thuyên, sinh năm 1276, con trưởng của Trần Nhân Tông, ở ngôi từ năm 1293 đến 1314 và mất năm 1320. Ông lên ngôi khi đất nước vừa qua ba cuộc chiến tranh với Mông – Nguyên, và triều ông mở ra mấy chục năm thái bình đầu tiên của nhà Trần. Sử chép ông thời trẻ có lúc ham rượu, nhưng biết sửa mình, giữ kỷ cương nghiêm, trọng dụng người tài xuất thân bình thường. Thời ông cũng có cuộc hôn nhân Huyền Trân – Chế Mân đem về hai châu Ô, Lý.

Lên ngôi khi chiến tranh vừa dứt

Trần Thuyên được lập làm thái tử từ nhỏ. Năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con, lên làm thái thượng hoàng. Anh Tông đặt niên hiệu Hưng Long và giữ niên hiệu ấy suốt 21 năm ở ngôi.

Đất nước khi ấy vừa ra khỏi chiến tranh: làng mạc bị tàn phá, mùa màng thất bát, quan hệ với nhà Nguyên vẫn căng. Nhưng từ năm 1294, khi Hốt Tất Liệt mất, nhà Nguyên dừng hẳn kế hoạch đánh xuống phương Nam. Anh Tông là vị vua Trần đầu tiên có thể dồn sức cho việc trị nước trong thời bình.

Bài học đêm say rượu

Toàn thư chép một câu chuyện nổi tiếng. Thời gian đầu ở ngôi, vua hay uống rượu. Một lần thượng hoàng Nhân Tông từ Thiên Trường về kinh bất ngờ, các quan trong cung không ai dám vào báo, vua say ngủ đến tận chiều. Thượng hoàng giận, quay về Thiên Trường, ra lệnh triều thần ngày hôm sau phải đến đó nghe xử.

Tỉnh dậy biết chuyện, vua sợ hãi, đi ra ngoài gặp một học trò là Đoàn Nhữ Hài, nhờ viết biểu tạ tội. Nhữ Hài viết ngay, lời lẽ khẩn thiết. Vua theo Nhữ Hài xuống thuyền về Thiên Trường, dâng biểu. Thượng hoàng đọc xong mới nguôi giận, dạy bảo vua một hồi rồi tha. Từ đó vua chừa hẳn rượu, và Đoàn Nhữ Hài được trọng dụng, sau làm đến chức cao trong triều.

Câu chuyện có hai ý. Một là cơ chế thượng hoàng của nhà Trần vận hành thật: người cha vẫn kèm cặp con khi con đã làm vua. Hai là vua biết nhận lỗi và nhân đó tìm được một người tài, một học trò không xuất thân quý tộc.

Nghiêm phép nước

Sử thần đời sau nhận xét thời Anh Tông là lúc chính sự, pháp độ nhà Trần đã thành nền nếp. Vua coi trọng việc giữ phép cũ, không thay đổi tuỳ tiện. Những nét đáng ghi:

  • Kỷ cương trong triều: vua giữ nghiêm lễ nghi, thứ bậc, kể cả với tôn thất. Trong thời bình, vương hầu không còn vai trò cầm quân như trước, và vua dần dựa nhiều hơn vào quan lại có học.
  • Dùng người tài ngoài quý tộc: dưới triều ông, Mạc Đĩnh Chi đỗ trạng nguyên (1304), Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão được trọng dụng. Phạm Ngũ Lão xuất thân bình dân, Đoàn Nhữ Hài là học trò, Mạc Đĩnh Chi bị chê ngoại hình nhưng vẫn được trọng vì tài.
  • Thi cử đều đặn hơn: các khoa thi trong thời Hưng Long là nơi tầng lớp Nho sĩ bắt đầu bước vào bộ máy đông hơn, chuẩn bị cho thời Minh Tông, Dụ Tông.

Thời bình cũng là lúc văn chương có chỗ đứng. Phạm Ngũ Lão, võ tướng xuất thân bình dân, để lại bài Thuật hoài với câu "Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu" (cầm ngang ngọn giáo giữ non sông đã mấy thu). Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên dưới triều Anh Tông và nổi tiếng giỏi ứng đối. Danh hiệu "lưỡng quốc trạng nguyên" gắn với ông và những câu đối với vua quan nhà Nguyên mà người ta hay kể là giai thoại dân gian, không có trong chính sử.

Huyền Trân và hai châu Ô, Lý

Năm 1301, thượng hoàng Nhân Tông (khi ấy đã xuất gia) đi thăm Champa, được vua Champa là Chế Mân tiếp đón, và có hứa gả con gái cho Chế Mân. Sau mấy năm đàm phán, năm 1306 triều Anh Tông gả công chúa Huyền Trân, em gái vua, cho Chế Mân. Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ. Năm 1307, triều đình đổi tên thành Thuận Châu và Hoá Châu, vùng đất nay thuộc Quảng Trị và Huế.

Chưa đầy một năm sau, Chế Mân mất. Theo tục Champa, hoàng hậu có thể phải chết theo vua. Anh Tông sai Trần Khắc Chung sang, lấy cớ làm lễ ở bờ biển, đưa Huyền Trân về. Chuyện Trần Khắc Chung và Huyền Trân trên đường về được dân gian và văn chương đời sau thêu dệt nhiều; chính sử chỉ chép Khắc Chung đi đường biển lâu ngày mới về, rồi để lời đàm tiếu.

Quan hệ với Champa sau đó xấu đi. Năm 1312, Anh Tông thân chinh, bắt được vua Champa là Chế Chí đưa về, lập em Chế Chí lên thay. Đây là chiến dịch lớn cuối cùng của thời Anh Tông.

Hiếu với cha

Năm 1308, thượng hoàng Nhân Tông, khi ấy đã là sơ tổ Trúc Lâm, mất ở am Ngoạ Vân trên núi Yên Tử. Anh Tông lo việc rước xá lợi, xây tháp, làm lễ an táng. Mối quan hệ cha con giữa hai người là một trong những mối quan hệ được sử chép ấm áp nhất thời Trần: cha dạy con nghiêm, con kính cha thật lòng.

Nhường ngôi và những năm cuối

Năm 1314, Anh Tông nhường ngôi cho con là Trần Mạnh (Minh Tông), lên làm thượng hoàng, ở Thiên Trường. Ông mất năm 1320, thọ 45 tuổi, táng ở Thái Lăng thuộc vùng An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh).

Sử chép ông có viết Thuỷ vân tuỳ bút, nhưng khi bệnh nặng đã sai đốt đi, nên tác phẩm không còn. Một vài bài thơ của ông còn lại trong các tuyển tập thơ văn Lý – Trần, phần nhiều là thơ tả cảnh, giọng thanh đạm.

Đánh giá

Khía cạnhGhi nhận
Chính sựGiữ phép cũ, kỷ cương nề nếp, thời bình kéo dài
Dùng ngườiTrọng dụng người tài xuất thân bình thường: Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Mạc Đĩnh Chi
Lãnh thổThu hai châu Ô, Lý qua hôn nhân (1306)
Đối ngoạiGiữ hoà với Nguyên; cứng rắn với Champa
Điểm bị chêThời trẻ ham rượu; việc gả Huyền Trân bị văn sĩ đương thời mượn chuyện Chiêu Quân cống Hồ để làm thơ chê

Sử thần đời sau đánh giá Anh Tông là vua giỏi giữ nghiệp, kế thừa được thời thịnh của cha ông. Sử học hiện đại coi thời ông là đỉnh của nhà Trần thời bình: không còn chiến tranh lớn, bộ máy đã định hình, văn chương Nho học bắt đầu nở rộ.

Góc nhìn hôm nay

Bài học từ Anh Tông rất đời thường: người có quyền lực cao nhất vẫn có thể sai, vẫn có thể sửa, và sửa sai đôi khi mở ra cơ hội tìm được người giỏi.

  • Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh): nơi có Thái Lăng của Anh Tông và các lăng vua Trần đời sau.
  • Đền thờ Huyền Trân ở Huế: nhắc đến vùng đất Thuận Hoá có được dưới triều ông.
  • Đọc: kỷ Trần Anh Tông trong Toàn thư, đặc biệt đoạn năm Hưng Long thứ 7 về chuyện say rượu và Đoàn Nhữ Hài.

Câu hỏi thường gặp

Trần Anh Tông là ai?

Trần Anh Tông là Trần Thuyên, con trưởng Trần Nhân Tông, vua thứ tư nhà Trần, ở ngôi 1293–1314. Thời ông là thời thái bình sau ba cuộc chiến với Mông – Nguyên. Ông mất năm 1320.

Huyền Trân công chúa là em hay con Trần Anh Tông?

Huyền Trân là em gái Trần Anh Tông, con gái Trần Nhân Tông. Năm 1306, dưới triều Anh Tông, bà được gả cho vua Champa Chế Mân, đổi lấy hai châu Ô, Lý.

Châu Ô, châu Lý nay ở đâu?

Châu Ô và châu Lý được đổi tên thành Thuận Châu và Hoá Châu năm 1307. Vùng đất này nay thuộc Quảng Trị và Huế.

Đoàn Nhữ Hài là ai?

Đoàn Nhữ Hài là một học trò được Trần Anh Tông nhờ viết biểu tạ tội với thượng hoàng sau lần vua say rượu. Nhờ bài biểu ấy vua được tha, còn Nhữ Hài được trọng dụng và về sau giữ chức cao trong triều.

Trần Anh Tông lăng ở đâu?

Ông được táng ở Thái Lăng, vùng An Sinh, Đông Triều (Quảng Ninh), trong khu lăng mộ các vua Trần đời sau.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác