Trần Thánh Tông tên thật là Trần Hoảng, sinh năm 1240, vị vua thứ hai của nhà Trần, ở ngôi từ năm 1258 đến 1278 rồi làm thái thượng hoàng đến khi mất năm 1290. Sử nhớ ông là vị vua đối đãi với anh em tôn thất thân thiết như người nhà, trị nước khoan hoà, và là thượng hoàng cùng con trai Trần Nhân Tông lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Nguyên năm 1285 và 1288. Dưới triều ông, bộ quốc sử đầu tiên của người Việt ra đời.
Thái tử được dạy để làm vua
Trần Hoảng là con trưởng của Trần Thái Tông và hoàng hậu Thuận Thiên. Ông được lập làm thái tử từ nhỏ. Khác với cha, người bị đặt lên ngai năm tám tuổi trong một cuộc chính biến, Trần Hoảng được chuẩn bị đàng hoàng. Năm 1258, sau chiến thắng quân Mông Cổ, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con, lên làm thượng hoàng. Trần Hoảng lên ngôi ở tuổi 19, đặt niên hiệu Thiệu Long.
Đây là lần đầu tiên chế độ thái thượng hoàng của nhà Trần vận hành đúng như thiết kế: cha nhường ngôi khi còn khoẻ, kèm cặp con trong những năm đầu.
Thương anh em: lời vua với tôn thất
Nét nổi bật nhất của Thánh Tông trong sử là cách ông đối xử với họ hàng. Toàn thư chép vua thường cùng các anh em tôn thất ăn chung mâm, ngủ chung giường, chỉ khi thiết triều mới phân thứ bậc vua tôi. Vua nói với tôn thất, đại ý: thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông nên cùng anh em trong họ hưởng phú quý chung; tuy bên ngoài một người ở ngôi tôn, được cả nước phụng dưỡng, nhưng bên trong ta với các khanh là anh em ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui.
Đây không chỉ là tình cảm. Nhà Trần vừa giành ngôi từ nhà Lý qua hôn nhân, lại vừa trải qua vụ Trần Liễu nổi loạn năm 1237. Gắn chặt tôn thất là cách giữ cho họ Trần không chia rẽ, không ai có lý do dòm ngó ngai vàng. Cách làm này về sau thể hiện rõ trong kháng chiến: các vương hầu họ Trần đều cầm quân, đều có trách nhiệm với vận mệnh chung.
Cũng cần nói thêm: nhà Trần có tục kết hôn trong họ để giữ quyền lực. Hoàng hậu của Thánh Tông là Thiên Cảm, con gái Trần Liễu, tức em họ của vua và em ruột Trần Quốc Tuấn. Sử gia Nho giáo đời sau chê tục này trái lễ.
Điền trang của vương hầu
Năm 1266, Toàn thư chép vua xuống chiếu cho vương hầu, phò mã, công chúa chiêu tập những người phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng hoang, lập thành điền trang. Đây là mốc thường được dẫn khi nói về chế độ điền trang thời Trần.
Chính sách này có hai mặt. Một mặt, ruộng hoang được khai phá, người không nhà có chỗ sống, vương hầu có cơ sở kinh tế và gia binh riêng, thứ rất hữu ích khi có chiến tranh. Mặt khác, nó làm tầng lớp quý tộc ngày càng giàu và mạnh, nô tỳ ngày càng nhiều, gốc rễ của những căng thẳng xã hội cuối thời Trần mà Hồ Quý Ly về sau tìm cách cắt bằng chính sách hạn nô.
Văn hoá: bộ quốc sử đầu tiên
Năm 1272, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu Lê Văn Hưu soạn xong bộ Đại Việt sử ký 30 quyển, chép từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng, dâng lên vua. Thánh Tông xuống chiếu khen. Đây là bộ quốc sử đầu tiên của người Việt được biết đến. Bản gốc không còn, nhưng nhiều lời bình của Lê Văn Hưu được Ngô Sĩ Liên chép lại trong Đại Việt sử ký toàn thư, nhờ vậy ta còn đọc được.
Thánh Tông cũng chú trọng việc học. Sử chép triều ông mở các khoa thi, chọn người văn học làm quan; vua tự mình chọn thầy dạy thái tử, lưu tâm việc dạy dỗ con cháu.
Đối ngoại: mềm mỏng với Nguyên, chuẩn bị cho chiến tranh
Thời Thánh Tông, nhà Nguyên của Hốt Tất Liệt ngày càng lấn ép. Nguyên đòi vua Trần phải sang chầu, đưa con tin, nộp sổ hộ khẩu, chịu lính và nộp thuế, chịu đặt quan giám trị. Thánh Tông dùng cách trì hoãn: vẫn sai sứ, vẫn cống nạp theo lệ, nhưng tìm lý do để từ chối các yêu sách động đến chủ quyền. Năm 1278, ông nhường ngôi cho thái tử Khâm (Nhân Tông) và lên làm thượng hoàng.
Trong hai cuộc kháng chiến 1285 và 1288, Thánh Tông là thượng hoàng, cùng con điều hành. Các trận đánh do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và các tướng chỉ huy, thuộc về những bài khác. Điều cần biết là quyết định lớn nhất, đánh hay hoà, được hai vua cùng các vương hầu và bô lão bàn bạc, đúng tinh thần "anh em cùng lo" mà Thánh Tông đã xây dựng.
Hai câu thơ ở Chiêu Lăng
Sau chiến thắng năm 1288, hai vua về làm lễ ở Chiêu Lăng, lăng của Trần Thái Tông. Thấy ngựa đá ở lăng lấm bùn, Thánh Tông làm hai câu thơ được Toàn thư chép lại:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Nghĩa là: xã tắc hai phen phải nhọc đến ngựa đá; non sông nghìn thuở vững như âu vàng. Hình ảnh ngựa đá lấm bùn vì cũng phải ra trận là một trong những câu thơ được nhớ nhiều nhất của thời Trần, vừa tự hào vừa nhắc nỗi vất vả.
Đánh giá
Thánh Tông mất năm 1290, thọ 51 tuổi, táng ở Dụ Lăng, vùng Long Hưng. Sử gia đời sau đánh giá ông rất cao. Ngô Sĩ Liên khen vua thờ cha hết lòng hiếu, đối đãi anh em hết tình thân, dạy con có phương pháp, trị nước khoan hoà mà dân được yên, công nghiệp văn trị có thể sánh với các bậc vua hiền.
| Mặt mạnh | Điểm bị phê phán |
|---|---|
| Đoàn kết tôn thất, tạo sức mạnh cho kháng chiến | Hôn nhân nội tộc, trái lễ theo chuẩn Nho giáo |
| Chuyển giao quyền lực êm, dạy con chu đáo | Điền trang, nô tỳ phình to, để lại mầm mâu thuẫn |
| Đối ngoại mềm mỏng, có chuẩn bị | — |
| Bộ quốc sử đầu tiên ra đời dưới triều ông | — |
Góc nhìn hôm nay
Bài học từ Thánh Tông là sức mạnh của một tập thể đồng lòng. Các cuộc kháng chiến chống Nguyên được nhớ như chiến công của Hưng Đạo vương và các tướng, nhưng nền móng của sự đồng lòng ấy là hai mươi năm vua đối đãi với anh em như người nhà.
- Khu di tích đền Trần ở Thái Bình cũ (vùng Hưng Hà, nay thuộc Hưng Yên): nơi có lăng các vua Trần đầu tiên, gắn với chuyện ngựa đá Chiêu Lăng.
- Đền Trần Nam Định (nay thuộc Ninh Bình): trên đất Tức Mặc, nơi có hành cung Thiên Trường của các thượng hoàng.
- Đọc: kỷ Trần Thánh Tông trong Toàn thư; lời bình của Lê Văn Hưu rải rác trong các kỷ trước, để thấy văn của bộ sử đầu tiên.
Câu hỏi thường gặp
Trần Thánh Tông là ai?
Trần Thánh Tông là Trần Hoảng, vua thứ hai nhà Trần, ở ngôi 1258–1278, làm thái thượng hoàng đến khi mất năm 1290. Ông nổi tiếng thương anh em tôn thất và cùng Trần Nhân Tông lãnh đạo kháng chiến chống Nguyên.
Câu thơ "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã" của ai?
Đó là thơ của Trần Thánh Tông, làm sau chiến thắng quân Nguyên năm 1288 khi về lễ ở Chiêu Lăng, thấy ngựa đá lấm bùn. Nghĩa là xã tắc hai phen nhọc ngựa đá, non sông nghìn thuở vững âu vàng.
Bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu ra đời năm nào?
Lê Văn Hưu soạn xong Đại Việt sử ký 30 quyển năm 1272, dưới triều Trần Thánh Tông. Đây là bộ quốc sử đầu tiên được biết của người Việt. Bản gốc không còn, nhưng lời bình của ông được chép lại trong Toàn thư.
Điền trang thời Trần là gì?
Điền trang là vùng ruộng đất do vương hầu, quý tộc chiêu tập người nghèo, nô tỳ khai khẩn và quản lý. Năm 1266 Trần Thánh Tông xuống chiếu cho phép việc này. Điền trang giúp khai hoang nhưng cũng làm tầng lớp quý tộc mạnh lên.
Trần Thánh Tông và Trần Hưng Đạo có quan hệ gì?
Hai người là anh em con chú con bác: Thánh Tông là con Trần Thái Tông, Hưng Đạo vương là con Trần Liễu, anh của Thái Tông. Hoàng hậu của Thánh Tông là em gái Hưng Đạo vương.