Hoàng ThượngWiki
Tìm
Vua Trần & Hồ

Trần Minh Tông: ông vua giữ lề lối và thời thịnh cuối của nhà Trần

Trần Minh Tông ở ngôi 1314–1329 rồi làm thượng hoàng đến 1357, giữ phép cũ, dùng nhiều danh thần Nho học như Trương Hán Siêu, Chu Văn An; sau ông nhà Trần bắt đầu suy.

Trần Minh Tông: ông vua giữ lề lối và thời thịnh cuối của nhà Trần

Trần Minh Tông tên thật là Trần Mạnh, sinh năm 1300, ở ngôi từ năm 1314 đến 1329, rồi làm thái thượng hoàng thêm 28 năm, thực chất điều hành việc nước cho đến khi mất năm 1357. Hơn bốn mươi năm ông nắm quyền là thời thịnh cuối cùng của nhà Trần: kỷ cương còn vững, văn chương Nho học nở rộ, nhiều danh thần như Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn được dùng. Ông nổi tiếng là người giữ lề lối cũ, nhưng cũng để lại một vụ án oan lớn và một lựa chọn kế vị làm triều Trần suy sau ông.

Người con thứ tư lên ngôi

Trần Mạnh là con thứ tư của Trần Anh Tông. Năm 1314, Anh Tông nhường ngôi cho ông, lên làm thượng hoàng. Minh Tông khi ấy 15 tuổi theo tuổi ta, đặt niên hiệu Đại Khánh, về sau đổi sang Khai Thái.

Ông lớn lên trong những năm thái bình của triều cha, được học hành bài bản. Sử chép ông thông minh, thích văn chương, có tài nhìn người. Sáu năm đầu, thượng hoàng Anh Tông còn sống, kèm cặp con theo đúng lệ nhà Trần.

Giữ lề lối: vì sao Minh Tông không thích đổi mới

Đặc điểm sử nhắc nhiều nhất ở Minh Tông là ông giữ gìn phép tắc tổ tông, không muốn thay đổi chế độ một cách vội vàng. Về sau, Trần Nghệ Tông nói thành lời rõ ràng: nhà Trần có pháp độ riêng, không bắt chước nhà Tống; chỉ từ khoảng niên hiệu Đại Trị, tức sau khi Minh Tông mất, phép cũ mới bị các Nho sĩ trẻ đổi theo lối phương Bắc. Lời ấy ngầm coi thời Minh Tông là lúc phép tổ tông còn được giữ nguyên.

Giữ lề lối có cái lợi: bộ máy ổn định, không xáo trộn, tôn thất và quan lại đều biết vị trí của mình. Nhưng nó cũng có cái giá: các vấn đề tích tụ từ thời Thánh Tông như điền trang lớn, nô tỳ đông, quý tộc lấn át, không được giải quyết. Những vấn đề ấy bùng ra sau khi ông mất.

Thời của các danh thần Nho học

Dưới thời Minh Tông, một thế hệ Nho sĩ xuất sắc bước vào triều đình. Họ không phải tôn thất, nhiều người xuất thân bình thường:

Danh thầnVai trò thời Minh Tông
Trương Hán SiêuMôn khách của Hưng Đạo vương, được Minh Tông tin dùng; tác giả Bạch Đằng giang phú
Nguyễn Trung NgạnĐỗ hoàng giáp từ năm 16 tuổi, giữ nhiều chức quan, theo vua đi đánh Ai Lao
Chu Văn AnThầy giáo nổi tiếng, được mời làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, dạy thái tử
Phạm Sư Mạnh, Lê QuátHọc trò Chu Văn An, làm quan to, để lại nhiều thơ văn
Đoàn Nhữ HàiĐại thần từ thời Anh Tông, mất năm 1335 trong chiến dịch Ai Lao

Văn học chữ Hán thời này đạt đến độ chín. Bản thân Minh Tông cũng làm thơ; một số bài của ông còn trong tuyển Thơ văn Lý – Trần, trong đó có bài viết về sông Bạch Đằng.

Vụ án Trần Quốc Chẩn năm 1328

Đây là vết đen lớn nhất trong đời Minh Tông. Năm 1328, vua chưa lập thái tử. Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn, cha của hoàng hậu Hiến Từ, muốn chờ hoàng hậu sinh con trai rồi mới lập. Có người gièm, dùng tiền mua chuộc gia nô của Quốc Chẩn tố cáo ông mưu phản. Vua cho bắt giam Quốc Chẩn ở chùa Tư Phúc.

Vua hỏi ý Trần Khắc Chung. Toàn thư chép Khắc Chung trả lời: "Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó." Quốc Chẩn chết trong ngục. Hơn một trăm người bị liên luỵ. Về sau, sự việc lộ ra là vu oan, kẻ tố cáo bị trừng trị, nhưng người đã chết thì không sống lại được.

Sử thần đời sau trách nặng Minh Tông vì nghe lời gièm mà hại chính cha vợ, một bậc tôn thất có công. Câu "bắt hổ dễ, thả hổ khó" trở thành ví dụ quen thuộc về cách một lời khuyên mập mờ có thể dẫn đến bất công.

Thượng hoàng 28 năm

Năm 1329, Minh Tông nhường ngôi cho con là Trần Vượng, tức Trần Hiến Tông, mới mười tuổi. Ông lên làm thượng hoàng nhưng vẫn là người quyết định mọi việc lớn.

  • Ai Lao (1334–1335): quân Ai Lao quấy nhiễu biên giới phía tây; thượng hoàng thân chinh. Lần đầu, quân Ai Lao nghe tin rút. Một bài văn kỷ công được khắc vào vách đá ở miền tây Nghệ An, thường gọi là bia Ma Nhai. Lần sau năm 1335 không thuận lợi, Đoàn Nhữ Hài mất trong chiến dịch.
  • Hiến Tông mất sớm (1341): Hiến Tông mất khi mới 23 tuổi, không có con. Minh Tông lập con khác là Trần Hạo, sáu tuổi, tức Trần Dụ Tông.
  • Điều hành thay vua nhỏ: suốt 16 năm tiếp theo, triều chính vẫn nằm trong tay Minh Tông. Năm 1341 triều đình cho soạn Hoàng triều đại điển và khảo soạn Hình thư, giao Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn.

Năm 1357: mất, và triều Trần bắt đầu xuống dốc

Minh Tông mất năm 1357, thọ 58 tuổi, táng ở Mục Lăng, vùng An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh). Gần như ngay sau đó, Dụ Tông, người đã được ngồi ngai 16 năm nhưng chưa thực sự trị nước, bắt đầu chơi bời, triều chính đổ nát. Sử gia thường coi năm 1357 là mốc nhà Trần chuyển từ thịnh sang suy.

Còn một chi tiết về sau mới thấy hệ trọng: Minh Tông lấy hai người con gái họ Lê ở Thanh Hoá làm phi. Hai bà sinh ra Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông. Cháu gọi hai bà bằng cô là Lê Quý Ly, tức Hồ Quý Ly sau này. Chính quan hệ họ ngoại ấy đưa Hồ Quý Ly vào trung tâm quyền lực.

Đánh giá: người giữ nhà giỏi, người chọn kế nghiệp chưa khéo

Được khenBị chê
Giữ kỷ cương, triều đình ổn định gần nửa thế kỷVụ án oan Trần Quốc Chẩn năm 1328
Biết người, dùng nhiều danh thần Nho họcKhông giải quyết các vấn đề tích tụ (điền trang, nô tỳ)
Bảo vệ biên giới phía tâyNắm quyền quá lâu, vua con không được tập trị nước
Văn hoá, văn học phát triểnChọn Dụ Tông kế vị, mở đầu thời suy

Nhìn lại, có thể nói Minh Tông là một "người giữ nhà" giỏi. Chính vì ông giữ quá lâu và quá chặt, khi ông đi thì người ở lại không biết cách giữ.

Góc nhìn hôm nay

  • Khu lăng mộ nhà Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh): Mục Lăng của Minh Tông nằm trong quần thể di tích An Sinh.
  • Đền Kiếp Bạc và Côn Sơn (Hải Dương cũ, nay thuộc Hải Phòng): gắn với Trương Hán Siêu, Chu Văn An và các danh thần cùng thời. Chu Văn An về ở ẩn ở vùng núi Phượng Hoàng, Chí Linh.
  • Đọc: Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu; kỷ Trần Minh Tông và Trần Hiến Tông trong Toàn thư để thấy rõ vụ án Quốc Chẩn.

Câu hỏi thường gặp

Trần Minh Tông là ai?

Trần Minh Tông là Trần Mạnh, con thứ tư Trần Anh Tông, vua thứ năm nhà Trần, ở ngôi 1314–1329. Sau đó ông làm thái thượng hoàng đến khi mất năm 1357 và vẫn nắm quyền điều hành.

Vì sao gọi thời Minh Tông là thời thịnh cuối của nhà Trần?

Thời ông nắm quyền, kỷ cương còn vững, nhiều danh thần Nho học được dùng, văn học phát triển. Sau khi ông mất năm 1357, Trần Dụ Tông chơi bời, triều chính đổ nát, nhà Trần bắt đầu suy.

Câu "Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó" là của ai?

Đó là lời Trần Khắc Chung trả lời Trần Minh Tông năm 1328 khi vua hỏi nên xử Trần Quốc Chẩn thế nào. Quốc Chẩn bị vu oan mưu phản và chết trong ngục.

Trần Minh Tông có quan hệ gì với Hồ Quý Ly?

Minh Tông lấy hai cô ruột của Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly) làm phi, sinh ra Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông. Nhờ quan hệ họ ngoại này, Hồ Quý Ly được trọng dụng và dần nắm quyền.

Trần Minh Tông làm thượng hoàng bao lâu?

Ông làm thượng hoàng 28 năm, từ năm 1329 đến năm 1357, qua hai đời vua con là Hiến Tông và Dụ Tông.

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng

Bài viết liên quan

Mở app Hoàng Thượng

Phê sớ, giữ ngôi, để lại di sản cho đời sau

Mở app Hoàng Thượng Xem app khác