Trần Nghệ Tông tên thật là Trần Phủ, sinh năm 1321, là người đứng đầu tôn thất phế bỏ Dương Nhật Lễ để khôi phục ngôi vua cho họ Trần năm 1370. Ông chỉ ở ngôi hai năm (1370–1372), nhưng làm thái thượng hoàng hơn hai mươi năm, đến khi mất năm 1394, qua ba đời vua. Sử chép ông nhân hậu, cung kiệm, nhưng nhu nhược; chính ông là người trao dần toàn bộ quyền bính cho Lê Quý Ly, tức Hồ Quý Ly, người họ ngoại sau này chấm dứt nhà Trần.
Người con thứ không ngờ phải làm vua
Trần Phủ là con thứ ba của Trần Minh Tông, mẹ là Minh Từ hoàng phi, người họ Lê ở Thanh Hoá. Em trai cùng cha là Trần Kính (sau là Duệ Tông) có mẹ là Đôn Từ, em gái của Minh Từ. Cả hai bà đều là cô ruột của Lê Quý Ly. Mối quan hệ họ ngoại này là chìa khoá để hiểu toàn bộ phần đời còn lại của ông.
Ông không phải người được chọn nối ngôi. Hiến Tông, rồi Dụ Tông lần lượt lên ngôi, Trần Phủ chỉ là một hoàng thân, được phong tước Cung Định vương, sống ngoài vòng quyền lực.
Năm 1370: phế Dương Nhật Lễ
Năm 1369, Dụ Tông mất không con, thái hậu Hiến Từ lập Dương Nhật Lễ. Nhật Lễ lên ngôi rồi muốn đổi về họ Dương, giết cả thái hậu Hiến Từ. Tôn thất họ Trần hoảng sợ. Trần Phủ lánh ra vùng Đà Giang. Công chúa Thiên Ninh, em gái ông, cùng các tôn thất khác thúc ông đứng ra.
Cuối năm 1370, Trần Phủ đem quân về kinh, phế Nhật Lễ, giáng làm Hôn Đức công, rồi Nhật Lễ bị giết. Trần Phủ lên ngôi, đặt niên hiệu Thiệu Khánh. Trong cuộc chính biến này, Lê Quý Ly đứng về phía ông.
Mẹ của Nhật Lễ chạy sang Champa, xin Chế Bồng Nga đánh Đại Việt. Năm 1371, quân Champa tiến vào Thăng Long, đốt phá cung điện, cướp của cải. Vua phải lánh đi. Đây là lần đầu tiên kể từ thời Mông – Nguyên, kinh đô bị quân ngoài chiếm.
Câu nói về "pháp độ riêng"
Ngay khi lên ngôi, Nghệ Tông có một nhận xét được Toàn thư chép lại, thường được trích khi bàn về ý thức tự chủ của người Việt. Đại ý: triều trước dựng nước có luật pháp, chế độ riêng, không theo quy chế nhà Tống, vì Nam Bắc nước nào làm chủ nước ấy, không bắt chước nhau; khoảng năm Đại Trị, bọn học trò mặt trắng được dùng, không hiểu ý sâu xa của việc lập pháp, đem phép cũ của tổ tông đổi theo phong tục phương Bắc. Vua ra lệnh khôi phục theo lệ cũ thời Khai Thái (thời Minh Tông).
Câu nói vừa thể hiện niềm tự tôn của nhà Trần, vừa cho thấy căng thẳng giữa tầng lớp quý tộc họ Trần với các Nho sĩ mới lên. Điều trớ trêu là chính người được Nghệ Tông tin dùng nhất, Lê Quý Ly, về sau lại là người đổi mới mạnh tay hơn bất cứ ai.
Nhường ngôi cho em, làm thượng hoàng hơn hai mươi năm
Năm 1372, Nghệ Tông nhường ngôi cho em là Trần Kính, tức Duệ Tông, người có công lớn trong việc phế Nhật Lễ. Ông lên làm thái thượng hoàng.
Năm 1377, Duệ Tông tử trận ở Champa. Thượng hoàng lập con của Duệ Tông là Trần Hiện lên ngôi, không lập con mình. Sử ghi đây là việc làm đúng lẽ, được khen. Nhưng trong những năm tiếp theo, Champa liên tục đánh ra Bắc; năm 1377 và năm 1378, rồi năm 1383, quân Champa uy hiếp kinh thành. Thượng hoàng nhiều lần phải lánh đi. Người chống đỡ chủ yếu ở mặt quân sự là các tướng như Trần Khát Chân, còn người lo điều phối triều chính ngày càng là Lê Quý Ly.
Trao quyền cho Lê Quý Ly
Lê Quý Ly lên rất nhanh dưới bóng Nghệ Tông. Một vài mốc theo Toàn thư:
| Năm | Việc |
|---|---|
| 1371 | Quý Ly làm Khu mật viện đại sứ; Nghệ Tông gả em gái là công chúa Huy Ninh cho Quý Ly |
| Thập niên 1380 | Giữ các chức đứng đầu quân đội và triều chính |
| 1388 | Vua Phế Đế mưu giảm quyền Quý Ly; Nghệ Tông phế Phế Đế, lập con mình là Trần Ngung (Thuận Tông), con rể Quý Ly |
| Đầu thập niên 1390 | Nghệ Tông sai vẽ tranh Tứ phụ ban cho Quý Ly |
| 1394 | Nghệ Tông mất; Quý Ly phụ chính |
Bức tranh Tứ phụ (bốn người giúp vua) vẽ Chu Công giúp Thành Vương, Hoắc Quang giúp Hán Chiêu Đế, Gia Cát Lượng giúp vua Thục, Tô Hiến Thành giúp Lý Cao Tông. Ý của thượng hoàng là mong Quý Ly làm bề tôi phò vua trẻ như bốn người ấy.
Năm 1388 là bước ngoặt. Phế Đế, khi đã lớn, thấy quyền Quý Ly quá lớn nên bàn với một số người tìm cách giảm bớt. Quý Ly biết được, đến gặp thượng hoàng. Nghệ Tông tin Quý Ly, phế vua cháu và lập con mình. Phế Đế sau đó bị giết. Một số tướng lĩnh, tôn thất trung thành với Phế Đế cũng bị xử.
Lời dặn cuối đời
Năm 1394, khi bệnh nặng, Nghệ Tông gọi Quý Ly vào. Toàn thư chép lời dặn, đại ý: Bình chương là họ thân, mọi việc nước nhà đều trao cả cho khanh; nay thế nước suy yếu, trẫm thì già nua; sau khi trẫm mất, quan gia nếu giúp được thì giúp, nếu hèn kém ngu muội thì khanh cứ tự nhận lấy ngôi. Quý Ly bỏ mũ, rập đầu khóc, thề sẽ hết lòng phò vua.
Đây là một trong những đoạn sử đáng suy ngẫm nhất của thời Trần. Có người đọc nó như lời thử lòng, có người đọc như sự bất lực thật, có người cho là sử thần đời sau chép lại để nhấn mạnh tội phản bội của Quý Ly. Dù hiểu theo cách nào, sáu năm sau, Hồ Quý Ly đã ngồi lên ngai.
Nghệ Tông mất năm 1394, thọ 74 tuổi.
Đánh giá: người tốt nhưng không đủ sức
Sử gia đời sau đánh giá Nghệ Tông nhiều chiều. Họ khen ông có công khôi phục họ Trần, tính nhân hậu, sống giản dị, không lập con mình khi Duệ Tông mất. Nhưng họ trách ông nặng nhất ở chỗ tin một người quá mức, phế vua cháu vô tội vì lời người ấy, để quyền lực tập trung vào tay họ ngoại.
- Được khen: khôi phục dòng Trần năm 1370; tính nhân hậu, cung kiệm; biết giữ lẽ khi lập con Duệ Tông.
- Bị trách: nhu nhược trước Champa; tin Lê Quý Ly tuyệt đối; phế và để giết Phế Đế năm 1388.
Nhìn từ hôm nay, bi kịch của Nghệ Tông là bi kịch của một người ôn hoà trong thời loạn. Ông cần một người mạnh để chống đỡ, và chọn người mạnh nhất mình biết, cũng là người mình tin nhất vì là họ hàng. Nhưng một hệ thống mà mọi quyền lực đều đi qua một người thì khi người đó đổi ý, không còn gì chặn được.
Góc nhìn hôm nay
- Đền Trần Nam Định (nay thuộc Ninh Bình): nơi thờ các vua Trần, trên đất Thiên Trường nơi các thượng hoàng thường ở.
- Thành nhà Hồ (Thanh Hoá): để thấy kết quả của quá trình chuyển quyền mà Nghệ Tông đã mở ra.
- Đọc: kỷ Trần Nghệ Tông và các kỷ Phế Đế, Thuận Tông trong Toàn thư; đọc kỹ đoạn năm 1388 và năm 1394.
Câu hỏi thường gặp
Trần Nghệ Tông là ai?
Trần Nghệ Tông là Trần Phủ, con thứ ba Trần Minh Tông. Ông phế Dương Nhật Lễ, lên ngôi năm 1370, nhường ngôi cho em năm 1372 rồi làm thái thượng hoàng đến khi mất năm 1394.
Trần Nghệ Tông và Hồ Quý Ly có quan hệ gì?
Mẹ Nghệ Tông là cô ruột của Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly), nên hai người là anh em họ. Nghệ Tông còn gả em gái là công chúa Huy Ninh cho Quý Ly và trao dần mọi quyền bính cho ông.
Vì sao Trần Nghệ Tông phế vua Trần Phế Đế?
Năm 1388, Phế Đế mưu giảm quyền của Lê Quý Ly. Quý Ly biết và báo với thượng hoàng. Nghệ Tông tin Quý Ly, phế Phế Đế, lập con mình là Trần Thuận Tông, con rể của Quý Ly.
Trần Nghệ Tông dặn Hồ Quý Ly điều gì trước khi mất?
Theo Toàn thư, năm 1394 Nghệ Tông dặn Quý Ly, đại ý: nếu vua giúp được thì giúp, nếu hèn kém thì khanh cứ tự nhận lấy ngôi. Quý Ly khóc thề phò vua, nhưng sáu năm sau đã lên ngôi.
Tranh Tứ phụ là gì?
Đó là bức tranh Trần Nghệ Tông sai vẽ bốn bề tôi nổi tiếng giúp vua nhỏ: Chu Công, Hoắc Quang, Gia Cát Lượng và Tô Hiến Thành, rồi ban cho Lê Quý Ly, ý mong ông phò vua trẻ như họ.